~ Dịch: Những anh chàng đẹp trai và thuốc lá (Bidanshi to tabako) – Dazai Osamu ~

Ngày 19/06/2022. Một năm đã trôi qua, Anh Đào Kỵ năm nay đã đến.

Năm ngoái, những ngày này là những ngày mình vô cùng bất an, buồn tủi vì dịch bệnh. Mình đã tham dự một cuộc thi nho nhỏ tổ chức online ở Nhật, và được giải. Mình đáng lẽ sẽ được nhận món quà là một tập truyện của sensei được ship đến tận nhà. Thế rồi, mọi chuyện xảy đến. Quá nhanh, hoảng loạn và bàng hoàng. Rồi phần thưởng đã không thể đến. Niềm hy vọng tan biến. Theo sau đó là những chuỗi ngày thấp thỏm, lo âu, uất ức. Sensei đã không còn trên cõi đời này, mình cũng chẳng có tài văn chương xuất chúng để cầu mong một sự công nhận từ sensei. Chỉ là một đứa trẻ đã được sách của thầy cứu rỗi. Thế nên, ước mong to lớn nhất của mình đó là có được một quyển sách của sensei từ nước Nhật, sẽ càng tuyệt vời hơn nếu đến từ Aomori hay Tokyo. Đó sẽ là báu vật mà mình cất giữ thật kỹ trong chiếc rương nhỏ chứa những món đồ mình trân quý nhất. Dù mình không hề biết tiếng Nhật, nhưng đó là niềm hạnh phúc và vinh dự vô cùng đối với mình. Khi biết được rằng phần thưởng sẽ không được gửi đến, mình đã khóc rất nhiều, khóc suốt nhiều ngày liên tiếp, mình đã vuột mất điều mình luôn chờ mong. Thật ra, ban đầu, khi tham dự cuộc thi, mình chỉ nghĩ đơn giản thế này: ” Độc giả Nhật Bản yêu sensei thì đúng rồi, nhưng Việt Nam cũng có rất nhiều người mê sensei đó.” Lần hiếm hoi mình chui ra khỏi thế giới bé nhỏ của bản thân, xuất hiện trên mạng xã hội, dùng google dịch để dịch thể lệ cuộc thi, rồi hồn nhiên tham gia bằng tiếng Anh với lý do mình không biết tiếng Nhật, mong mọi người thứ lỗi, hết sức dũng cảm ấy chứ, để rồi kết cục thành như thế… Giờ viết ra những dòng này, một năm rồi, mà vẫn còn buồn rớt nước mắt…

Mình biết đến sensei là qua “Cô gái văn chương”. Lần đầu đọc “Cô gái văn chương và tên hề thích chết”, mình đã biết đến sensei như là một nhà văn có sức hấp dẫn rất lớn, “tác phẩm của Dazai sở hữu một phép màu có thể gợi lên sự “đồng cảm””, “trực tiếp chạm tới tâm hồn người đọc” và nếu ai đó đọc tác phẩm của ông khi đang suy sụp, họ sẽ dần bị kéo vào trong bóng tối,… Nhưng lúc đó mình chỉ nghĩ, “ồ, nghe hay đấy, nhưng giờ chưa muốn đọc thử đâu…” Rồi một thời gian sau, mình ngồi trên xe buýt, quay quắt với nỗi giằng xé, bế tắc của cuộc đời mình, mình chợt nhớ đến Dazai. Hay là đọc thử? Rồi biết đâu mình sẽ có được tấm vé một chiều giải quyết hết mọi vấn đề? Thế là mình lao vào đọc “Thất lạc cõi người” luôn, chả nghĩ ngợi gì thêm. Kết quả đây? Mình đã bị cuốn vào ngay từ những dòng chữ đầu tiên. “Í, sao giống mình vậy nè?” “Ừm, đúng là vậy thật!” “Hay ghê á, mình cũng nghĩ vậy luôn!”… Từng trang sách như từng lời trò chuyện giữa mình và một tác giả đến từ một đất nước khác, một thời đại khác, giữa hai tâm hồn cách biệt hai thế giới… Thế mới thấy được ma lực của Dazai mãnh liệt đến nhường nào. Mình đã có được một người thấu hiểu những tâm tư, khổ đau,… trong mình khi ấy, và rồi đột nhiên, mình không còn đơn độc nữa. Mình đương nhiên là không giống sensei hoàn toàn rồi, làm ơn đi mà… Thế nhưng mình đã không còn nghĩ quẩn nữa. Mình sẽ cố gắng viết tiếp câu chuyện cuộc đời mình, dù có đắng cay hay hạnh phúc. Hoàn toàn trái ngược với những gì mình nghĩ ban đầu, nhưng cũng là một câu chuyện đẹp.

Nói đến sensei, mình lại nhớ đến bài thơ “Gửi Ê-xê-nin” của thi sĩ Phùng Quán:

“Nhưng nói cũng là nói cho vui chứ tự treo cổ mình lên không phải ai ai cũng làm được

Muốn tự mình treo cổ mình lên

Muốn tự mình lùa lưỡi dao vào trái tim rát bỏng

Muốn tự mình mở động mạch cho máu nóng tuôn trào

Đâu chỉ là việc cầm lấy thừng, súng và dao

Cái khó nhiều người không làm được

Là phải có tột cùng sự chân thật:

Yêu thật, ghét thật, đau thương thật và thật dại khờ

Chắc vì lẽ đó mà những người tự sát tôi biết đều là các nhà thơ

Và thơ nơi đây cũng là thơ thật…”

Mình có thể phần nào hiểu được sensei, với mình, ai tự nhận họ hiểu hết về một người khác chính là sự xúc phạm to lớn đến người đó, không một tấm nhãn nào có thể đủ để xác định một con người, không một từ ngữ nào có thể diễn tả trọn vẹn được ý niệm. Thế nên, chỉ là phần nào thôi, thế gian cũng bất toàn, nhưng hy vọng sensei sẽ vơi đi nỗi cô đơn của mình, dù chỉ là chút ít.

Ngày 03/06/2022, mình giới thiệu môt chị đọc Thất Tịch rồi thấy chị đó vừa đọc vừa cười khúc khích. Mình cảm thấy rất hạnh phúc. Văn của sensei không phải lúc nào cũng u sầu, tuyệt vọng, đau đớn hay đọa lạc. Những tác phẩm của sensei cũng có thể mang đến tiếng cười, niềm tin, hy vọng và sự ấm áp của cuộc sống. Ước nguyện trong ngày Anh Đào kỵ năm nay, mình mong rằng sẽ càng có thêm nhiều độc giả biết đến văn chương của sensei, có thể chia sẻ được niềm vui, nỗi buồn với tác giả tài hoa bạc mệnh này, cũng như đừng ai đánh giá sensei lẫn tác phẩm của thầy một cách phiến diện, chỉ toàn những điều cực đoan, u ám nữa.

Mình cũng sẽ cố gắng chọn lọc và dịch thêm những truyện ngắn của sensei thông qua bản dịch tiếng Anh. Mình không biết tiếng Nhật, không thể đối chiếu với nguyên tác, việc dịch thuật cũng gặp nhiều trở ngại hơn. Nhưng, để thể phần nào giúp mọi người bớt e dè, cũng như nhìn nhận sensei và văn chương của thầy một cách toàn diện và đa chiều hơn, thì mình sẽ cố gắng hết sức.

Vì người thầy mà mình hết mực trân trọng, yêu thương. Và vì chính trái tim, nhiệt huyết của mình nữa. Một lời cảm ơn nhỏ bé gửi đến thầy, và đến những tháng ngày giông bão, mình chỉ có quyển Thất lạc cõi người làm bạn, để có được mình của ngày hôm nay, đã gục ngã nhưng gượng dậy được, đã tổn thương nhưng vẫn tự chữa lành, vẫn cố gắng làm một con người tử tế.

Lan man như thế cũng đủ rồi, mời mọi người thưởng thức tác phẩm nhé.


Tà Dương, xuất bản vào mùa Thu năm 1947, trở thành tác phẩm bán chạy nhất, và lúc bấy giờ, Dazai cũng thành một người khá có tiếng tăm. Đặc biệt nổi tiếng với giới trẻ, ông được rất nhiều người tôn sùng là tiếng nói của thế hệ hậu chiến. Người hâm mộ kéo đến nhà ông, đám đông thỉnh thoảng bu quanh ông trên đường phố và các tạp chí thì gửi phóng viên đến phỏng vấn ông. Dazai đối đãi với sự nổi tiếng này của mình, có lẽ còn ít đàng hoàng hơn cả thời ông chưa có tên tuổi và còn tranh giải thưởng Akutagawa. Đời sống riêng tư của ông là một mớ hỗn độn – tuy giờ đây ông có ba đứa con nhỏ ở nhà, và một cô con gái sơ sinh với bà Ota Shizuko, ông dành hầu hết thời gian ở bên nhân tình/ y tá/ thư ký của mình, bà Yamazaki Tamie. Sức khỏe của ông rất tệ, say xỉn suốt ngày, và viết lách với tốc độ điên cuồng. Dù được chấp nhận rộng rãi, ông lại nhạy cảm đáng sợ với những lời phê bình, đặc biệt là từ những nhà văn “đức cao vọng trọng” như Shiga Naoya (thường được nhắc đến ở Nhật như “vị thần của truyện ngắn”). Shiga đã đưa ra nhiều nhận xét ác ý về các tác phẩm của  Dazai, và vào tháng Ba năm 1948 – ngay trong tháng xuất bản “Những con quỷ đẹp mã và Thuốc lá” – Dazai đã “phản đòn” trong tác phẩm đầu tiên của tập tiểu luận với tựa đề “Như thị ngã văn.” Những tiểu luận này cay nghiệt (có người còn xem là cuồng loạn) đến nỗi ngay cả Ibuse Masuji cũng bắt đầu giữ khoảng cách với Dazai.

Dù vẫn tiếp tục cuộc chiến đơn độc này, nhưng giờ đây, tôi không còn có thể phủ nhận định mệnh rằng mình sẽ chiến bại, và nỗi cô đơn, u sầu nhấn chìm lấy tôi. Nhưng, đã đi xa đến vậy, tôi làm sao có thể quay sang những kẻ mà trước giờ mình chỉ toàn khinh miệt và vai nài được nhập bọn với chúng, rồi nói rằng mình đã biết sai rồi ư? Không đâu, tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục nốc thứ rượu rẻ tiền của mình và chiến đấu cuộc chiến mình sẽ không tài nào thắng nổi. 

Cuộc chiến của tôi. Nói ngắn gọn, đó là cuộc chiến chống lại sự cổ hủ. Cuộc chiến với lối viết quá sáo mòn và giả tạo. Chống lại kiểu tỏ ra đứng đắn một cách màu mè. Chống lại sự nhỏ nhen, ti tiện và cả những kẻ nhỏ nhen.

Tôi có thể thề trước Đấng Jehovah rằng: tôi đã đánh mất mọi thứ mình từng có, chỉ vì cuộc chiến này. Và giờ đây, đơn độc, sống lay lắt bám víu lấy rượu chè, tôi trông như kẻ đang trên bờ vực thất bại. 

Bọn cổ hủ là một lũ vô cùng độc ác. Nhìn bọn hắn trơ trẽn trưng ra mớ lý luận sáo rỗng, ghê tởm, tủn mủn và vụn vặt về văn chương hay nghệ thuật, rồi dựa vào đó mà chà đạp lên tất cả những chồi non đang xoay xở chật vật để tồn tại trên đời, không mảy may nhận ra tội lỗi của mình, bạn chỉ có thể sửng sốt, bàng hoàng. Cứ việc xô đẩy tùy thích: bọn hắn sẽ chẳng hề động đậy chút nào đâu. Chúng chỉ biết rằng, cuộc đời là đáng quý lắm, tiền bạc cũng thế, và càng thành công trong thế tục, vợ con của chúng sẽ càng hạnh phúc hơn, và vì thế, chúng họp thành một bọn, ca tụng lẫn nhau để thắt chặt tình đoàn kết, và để càng dễ áp bức những kẻ đứng một mình hơn. 

Trông như thể tôi đang thua đến nơi. Ngày hôm kia, tôi đang ngồi ở một quán nọ, nốc thứ rượu rẻ tiền, thì có ba văn sĩ đứng tuổi bước vào, và mặc dù tôi chưa từng gặp qua người nào trong số họ, bọn họ đã bước đến bao vây tôi và miệt thị các tác phẩm của tôi với điệu bộ say xỉn đáng kinh tởm và sai lệch hoàn toàn. Tôi là người dù uống nhiều đến đâu, cũng rất ghét để bản thân mất kiểm soát, vì thế, tôi chỉ cười cười và mặc cho những hành vi xúc phạm của họ cứ đi từ tai này qua tai kia, nhưng một khi vừa đặt chân về đến nhà, ngồi xuống ăn bữa khuya, nỗi khó chịu đã vượt quá sức chịu đựng của tôi và tôi đột nhiên bật khóc nức nở. Không thể ngăn lại dòng nước mắt cứ thế trào ra, tôi đặt bát đũa xuống và giãi bày nỗi thống khổ trong lòng một cách đứt quãng cho vợ tôi nghe.

“Anh ở đây …ngồi  đây này, sáng tác trong tuyệt vọng … nỗ lực hết mình để sáng tác cho xứng đáng với giá trị của anh, liều mạng để sáng tác, và mọi người thì xem anh như một trò cười … Mấy gã đó là tiền bối của anh, lớn hơn anh tận hai mươi tuổi, nhưng bọn họ đã làm gì nào? Bọn họ xúm lại ức hiếp anh …Lũ hèn hạ. Không công bằng chút nào … Được thôi, đã vậy thì, nếu bọn họ muốn như thế, anh cũng sẽ không kiềm chế nữa đâu. Anh sẽ công khai nói huỵch toẹt hết những gì anh nghĩ về bọn họ. Anh sẽ đấu tranh …Lần này bọn họ đi quá xa rồi … “

Tôi cứ thế lảm nhảm không ngừng, giờ càng khóc dữ dội hơn, mãi cho đến khi vợ tôi, chỉ đảo mắt, rồi nói, “Ngủ ngon, anh yêu. H’m?”

Cô ấy đỡ tôi nằm xuống tấm futon của mình, nhưng ngay cả khi đã nằm xuống, tôi vẫn không thể ngăn lại những giọt nước mắt uất nghẹn cứ trào ra. 

Ôi, cuộc đời quả là một vấn đề tồi tệ. Đặc biệt khó khăn và khổ sở đối với người đàn ông. Anh chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc đấu tranh. Và nhất định phải chiến thắng. 

Chỉ vài hôm sau, một phóng viên trẻ của một tạp chí nọ đến ngồi đối diện tôi và thốt ra câu hỏi lạ lùng nhất trần đời. “Ngài có muốn đến Ueno để xem những người vô gia cư không?” “Mấy người vô gia cư?” “Chúng tôi muốn chụp hình ngài với họ.” “Với mấy người vô gia cư?” “Vâng,” anh ta điềm tĩnh trả lời. Sao họ lại đặc biệt chọn ra mình nhỉ? Có lẽ đây là vấn đề tự ý liên tưởng của người ta: “Dazai.” “Vô gia cư.” “Vô gia cư.” “Dazai.”

“Được thôi,” tôi đáp. Có vẻ như tôi có một thói quen, rằng tôi sẽ đương đầu trực diện với đối tượng gây đau khổ cho mình, mỗi khi tôi muốn khóc. Tôi lập tức đứng dậy, thay bộ đồ vest và giục chàng phóng viên trẻ nhanh chân lên, rồi rời nhà trong khi anh ta chạy đuổi theo tôi ở đằng sau. 

Đó là một buổi sáng mùa đông lạnh lẽo. Lấy khăn tay quệt nước mũi, tôi đi cùng anh ta trong nỗi im lặng muộn phiền. 

Chúng tôi lên tuyến Đường sắt Quốc gia từ Mitaka đến Ga Tokyo, rồi chuyển sang chiếc tàu điện đô thị. Chàng phóng viên đưa tôi đến văn phòng của anh ta trước, mời tôi ngồi xuống ở phòng tiếp tân và mang một chai rượu whiskey ra.

Tôi nhận ra đây có lẽ là sách lược với dụng ý tốt của biên tập viên, chắc hẳn họ đã cho rằng Dazai, một anh chàng nhút nhát như thế, sẽ không tài nào trò chuyện ra hồn với những người vô gia cư kia được, trừ phi đã ngà ngà hơi men. Tuy vậy, thật lòng mà nói, chai whiskey mà tôi được mời là thứ lạ lùng nhất mà tôi từng gặp. Tôi là người đã uống qua vô số loại rượu được pha chế hết sức đáng ngờ, và tôi cũng không hề ra vẻ như mình có gu uống rượu thật sang trọng, nhưng đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy một chai whiskey thật vẩn đục. Bản thân cái chai trông cũng rất thật và có dán nhãn khá kiểu cách, nhưng rượu trong chai thì đục ngầu. Bạn thậm chí còn có thể gọi đây là rượu whiskey chưa tinh chế như sake ủ tại nhà vậy.

Nhưng tôi vẫn uống. Nốc cạn luôn thì đúng hơn. Tôi cứ mời những phóng viên tụ tập trong phòng tiếp tân cùng uống với mình, nhưng họ chỉ cười cười. Trước kia tôi từng nghe đồn rằng hầu hết các phóng viên của tạp chí này đều là những bợm rượu có hạng. Nhưng họ chẳng buồn động đến thứ này. Hiển nhiên là ngay cả những loại rượu thông thường cũng hơn xa thứ whiskey tự ủ này. 

Tôi tự chuốc cho bản thân say mèm. “Cái quái gì thế này?” tôi vừa nói vừa cười. “Mấy người không biết phép tắc gì hết sao? Dám mời khách cái thứ mà mình còn chả động tới hả?” Những phóng viên, nhận ra tình trạng của tôi lúc này, không muốn bỏ lỡ cơ hội, thầm nghĩ, không sai, mình phải đưa Dazai đến gặp mấy người vô gia cư ngay, trước khi dũng khí có được nhờ hơi men của anh ta tan biến, vội vã tống tôi lên ô tô và phóng vút tới Ueno, ở đó, họ dẫn tôi đến một hầm chui, như đường hầm giao thông, nơi nổi tiếng là chỗ tụ tập của người vô gia cư. 

Mặc cho các phóng viên đã chuẩn bị hết sức kỹ càng, tuy nhiên, kế hoạch của họ lại không được thành công cho lắm. Tôi xuống đường hầm và đi một mạch qua luôn, chẳng nhìn ngó gì xung quanh cả cho đến khi tới lối ra, ở đó, tôi thấy một nhóm bốn đứa trẻ, đang đứng trước một quầy bán thịt gà nướng, phì phèo hút thuốc. Cảm thấy khó chịu trước cảnh này, tôi bước nhanh đến chỗ chúng và bảo, “Đừng hút mấy thứ này nữa. Thuốc lá chỉ làm mấy đứa thêm đói bụng mà thôi. Vứt chúng đi. Nếu tụi con muốn ăn gà thì chú mua cho.”

Mấy cậu nhóc ngoan ngoãn ném mẩu thuốc hút dở đi. Chúng chỉ khoảng mười tuổi mà thôi, chỉ là những đứa trẻ. 

Tôi quay sang người phụ nữ đang bán quán và nói, “Một xiên cho mỗi đứa nhé.” Tôi cảm thấy khổ sở một cách lạ lùng.

Đây là điều mà người ta gọi là “tử tế” ư? Ý nghĩ này thật khó mà chịu đựng nổi. Rồi tôi nhớ đến một câu nói của Valery, càng làm mọi thứ nặng nề hơn. Nếu việc tôi vừa làm được bọn phàm phu tục tử xem là tử tế, tôi sẽ trở thành trò cười, chịu sự khinh miệt tột cùng của một người đứng đắn như Valery. Valery đã nói thế này:

“Khi làm một việc tốt, ta phải luôn xin lỗi. Không điều gì tổn thương người khác hơn lòng tử tế cả.”

Cảm thấy như bị cảm lạnh, tôi cong lưng, co người lại và sải bước khỏi đường hầm. 

Những phóng viên, bốn hoặc năm người gì đó, đuổi theo tôi.

“Thế nào?” một người nói. “Đúng là một địa ngục phải không?” “Dù gì thì đó cũng là một thế giới hoàn toàn khác biệt, ngài cũng thấy vậy phải không?” một người khác chen vào.

“Ngài có bị sốc không?” người thứ ba hỏi. “Ngài có cảm nghĩ thế nào?” Tôi bật cười. ” “Địa ngục” ư? Đừng ngớ ngẩn thế. Tôi chẳng sốc chút nào.”

Tôi bước nhanh về phía Công viên Ueno, càng lúc càng nói nhiều hơn. 

“Thực tình thì tôi chẳng nhìn thấy gì cả. Tôi chỉ toàn nghĩ đến nỗi khổ đau của mình mà thôi, và tôi vội vàng đi qua đường hầm đó mà mắt cứ nhìn thẳng về phía trước. Nhưng tôi cũng đoán ra được tại sao các cậu lại đưa tôi đến xem đúng chỗ đó. Tất nhiên là vì tôi là một anh chàng quá đỗi đẹp trai mà.”

Bọn họ cười ầm lên.

“Không, tôi không đùa đâu. Mấy cậu không nhận ra sao? Đi qua chỗ đó, điều ấn tượng nhất với tôi là hầu như tất cả những người vô gia cư đang nằm vạ vật trong bóng tối kia là những người đàn ông có vẻ đẹp cổ điển. Tức là những người đàn ông càng ưa nhìn thì càng dễ gặp nguy cơ phải sống dưới đường hầm. Như cậu này chẳng hạn, với bộ mặt đẹp đẽ này của mình, cậu phải coi chừng đấy, người anh em. Tôi thì biết mình phải cẩn trọng rồi.”

Họ lại ôm bụng cười lần nữa. Một người càng lúc càng lún sâu vào lòng tự luyến, không màng đến những gì người xung quanh nói với mình, và rồi đột nhiên nhận ra mình đang nằm vạ vật dưới đường hầm, mất cả tư cách làm người. Tuy tôi chỉ lơ đãng bước ngang qua đó, cảnh tượng rợn người cứ lởn vởn trong đầu tôi. 

“Ngài còn phát hiện điều gì nữa không,” bọn họ hỏi tôi, “ngoài thuyết về những chàng đẹp trai?”

“Thuốc lá. Mấy anh chàng ở dưới đó không say xỉn, nhưng hầu hết bọn họ đều hút thuốc. Thuốc lá cũng không rẻ gì. Nếu họ có tiền mua thuốc hút, thì cũng có thể mua tấm chiếu rơm hay đôi guốc chứ, không phải sao? Họ đi chân trần, nằm trên sàn bê tông, và lại hút thuốc. Chắc rằng con người – chí ít là con người thời nay – có thể rơi xuống tận cùng của đáy xã hội, trần như nhộng, mà vẫn phải hút thuốc. Đây là lời cảnh báo cho tất cả chúng ta. Tôi cũng không thể chắc chắn rằng mình sẽ không thành ra như vậy. Đấy, mấy cậu thấy chưa? Hành trình xuống đường hầm của tôi rốt cuộc cũng mang đến vài kết quả thiết thực.”

Chúng tôi đến quảng trường ở trước Công viên Ueno. Bốn cậu nhóc ở đường hầm đang ở đó, nô đùa vui vẻ dưới ánh mặt trời buổi trưa. Không hề nghĩ ngợi điều gì, tôi loạng choạng đi về phía lũ trẻ. “Đừng nhúc nhích. Ở yên đó nhé mọi người.” Một phóng viên giơ máy ảnh về phía chúng tôi và nhấn mở màn trập. “Cười lên nào!” anh ta la lên lần nữa, nhòm vào ống kính.

Một cậu bé chăm chú nhìn mặt tôi. “Nếu con nhìn chằm chằm người khác như thế, con sẽ không nhịn cười được đâu,” cậu bé nói, và tôi cũng nhận ra mình cũng đang mỉm cười. 

Các thiên thần bay lượn trên bầu trời, Thượng đế quyết định khiến đôi cánh của họ biến mất, và họ rơi xuống một cách nhẹ nhàng, như những người nhảy dù, đến mọi ngóc ngách trên thế gian này. Tôi đáp xuống vùng băng tuyết lạnh giá phía bắc, cậu ở lùm cây quýt tận phía nam, và những cậu bé này thì ở Công viên Ueno. Đó là điểm khác biệt duy nhất giữa chúng ta. Hãy lớn lên một cách thẳng thắn và trung thực nhé mấy đứa, và hãy ghi nhớ điều này: Đừng quá bận tâm vẻ bề ngoài, đừng hút thuốc lá, đừng rượu chè trừ phi vào những dịp đặc biệt, và hãy tìm cho mình một cô bạn gái e thẹn, hợp thời trang một cách vừa phải thôi, và yêu nhau thật lâu, thật lâu nhé.

Tái bút: Sau đó, một phóng viên mang hai bức ảnh được chụp vào ngày hôm đó cho tôi. Một bức là cảnh cậu bé không nhà cửa và tôi cùng nhìn nhau mỉm cười, còn bức kia là tôi trong một tư thế kỳ quặc không tưởng: ngồi xổm xuống trước lũ trẻ, nắm chân của một cậu nhóc giơ lên. Xin cho phép tôi giải thích trước, phòng khi tạp chí đăng bức hình này ra có thể khiến mọi người đưa ra kết luận sai lầm. (“Dazai thật màu mè. Nhìn hắn kìa, bắt chước Chúa Jesus rửa chân cho các môn đồ của mình. Eo ơi!”) Sự thật là, tôi chỉ đơn thuần cảm thấy tò mò, muốn xem thử đôi chân của lũ trẻ chạy nhảy khắp nơi mà không mang giày trông như thế nào thôi.

Để tôi kể thêm một chuyện vặt liên quan nữa nhé. Khi tôi nhận những bức ảnh, tôi gọi vợ mình đến cùng xem.

“Đây là ảnh mấy người vô gia cư ở Ueno.” Cô ấy nhìn chăm chú những bức ảnh và hỏi, “Mấy người vô gia cư? Bọn họ nhìn giống vậy sao?”

Tôi bị sốc khi nhận ra khuôn mặt mà cô ấy đang săm soi là ai.

“Em bị sao vậy? Là anh đó. Trời ạ, là ông chồng của em chứ ai. Mấy người vô gia cư ở bên này nè.”

Vợ tôi, một người vô cùng nghiêm túc, gần như không biết đùa. Cô ấy thật sự nhìn nhầm tôi với một người vô gia cư.

~ 25/12/1947, Dazai và những đứa trẻ vô gia cư ở Công viên Ueno ~

Mình dịch từ bản tiếng Anh trong quyển Self Portraits: Tales from the life of Japan’s great decadent romantic Osamu Dazai (Ralph F. McCarthy) nên sẽ có thiếu sót, khác biệt đôi chút với bản gốc tiếng Nhật. Các bạn có thể tham khảo bản gốc tiếng Nhật ở link này nhé https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/241_15081.html