~ DỊCH: KHÔNG ĐÙA ĐÂU (ZAKYO NI ARAZU) ~

Thực tế thì Dazai sensei không có căn hộ nào ở Hongo cả, và vì thế, không dễ xác định thời điểm diễn ra câu chuyện này. Nhưng ta có thể hình dung đây là tâm trạng của tác giả, vào khoảng mùa thu năm 1937, khi nhà văn sống một mình ở nhà trọ, sau khi ly dị cô Hatsuyo. Tháng Bảy năm đó, sự biến Lư Câu Kiều ( Sự kiện Cầu Marco Polo ) bùng nổ, châm ngòi chiến tranh Trung – Nhật nổ ra toàn diện, đánh dấu bước leo thang xung đột của Thế chiến Hai ở khu vực châu Á.


Tôi đang biến thành cái dạng gì đây? Chỉ cần nghĩ về điều này cũng đủ khiến tôi rùng mình và quẫn trí đến nỗi chẳng tài nào ở yên được, và vì thế, tôi rời căn hộ của mình ở Hongo, xách theo cây gậy chống, đi đến Công viên Ueno. Đó là một buổi chiều vào giữa tháng Chín. Bộ yukata trắng của tôi đã quá mùa, và tôi thấy mình như đang phát sáng lòe lòe lên trong đêm, “nổi” một cách kinh khủng, và điều đó đã khiến tôi suy sụp, buồn đau đến độ chẳng còn muốn sống trên đời. Một cơn gió lờ đờ thổi qua, xộc lên cái mùi nồng nồng ngai ngái nơi cống rãnh, lướt ngang qua mặt Hồ Shinobazu. Những đóa hoa sen nở trên hồ giờ đã bắt đầu tàn úa, những cái xác ghê tởm của chúng mắc kẹt giữa những cuống hoa cong queo, dài ngoằng và những khuôn mặt ngu độn của lũ người, tuy qua lại trong buổi chiều mát mẻ, nhưng lại tỏ ra kiệt lực và chán chường đến độ người ta có thể tưởng tượng rằng tận thế sắp đến nơi.

Tôi đi thẳng đến tận Ga Ueno. Qua những cánh cổng của nơi được mệnh danh là “Kỳ quan của Xứ sở Mặt Trời mọc” này, một bầy người đông như kiến, tối tăm, quằn quại đang tụ lại. Những linh hồn thất trận, tất cả bọn họ. Tôi không thể nghĩ gì khác hơn thế. Đối với những thôn xóm làm nông vùng Đông Bắc, đó là những cánh cửa dẫn xuống địa ngục. Người ta bước qua những cánh cửa đó để vào các thành phố lớn, và rồi, họ trở lại nhà, tuyệt vọng, chán chường và thất bại, chỉ còn manh áo rách bươm bám lấy tấm thân tàn. Các người đã mong mỏi, hy vọng điều gì thế? Tôi ngồi xuống chiếc ghế dài trong phòng chờ, khẽ nhếch miệng cười. Tôi cũng không nghĩ là họ sẽ không kể lại rằng, người ta đã nói với mình như vậy đâu. Ôi, biết bao nhiêu lần, các người nghe nói rằng, đến Tokyo thì cũng chẳng khá hơn chút nào đâu? Những người cha, người con gái, con trai ngồi trên những băng ghế gần chỗ tôi, nét tinh anh bị tước đoạt, chỉ còn nhìn đời qua cặp mắt mờ đục, u tối. Họ nhìn thấy những gì? Những bông hoa ma quái nhảy múa giữa không trung, câu chuyện cuộc đời của họ trải ra trước mặt như những cuộn tranh hay chiếc đèn kéo quân, với hình ảnh mặt người cùng bao thất bại, đắng cay, mất mát mà họ đã từng nếm trải.

Tôi đứng dậy, bỏ chạy khỏi căn phòng chờ, rồi bước về phía cánh cổng. Chuyến tàu tốc hành số 705 vừa đến ga, cả bầy người đen đặc như lũ kiến chen lấn, xô đẩy và ngã vào nhau khi cố xếp hàng để rời tàu. Va li và giỏ xách văng khắp nơi. A, còn có cả những chiếc túi vải nữa, vẫn còn có người dùng chúng đấy ư? Đừng nói với tôi là – các người đã bị đuổi khỏi thành thị và phải chạy đi trên xe lửa đấy.

Những chàng trai trẻ ăn vận thật bảnh bao, và tất nhiên là hơi bồn chồn và háo hức. Những gã nghèo túng đáng thương. Khờ khạo. Cãi nhau với bố một trận thôi là vùng vằng bỏ nhà ra đi. Thật dại dột làm sao.

Một anh chàng đặc biệt khiến tôi chú ý. Cậu ta có kiểu hút thuốc khá sang trọng – chắc chắn là học theo một bộ phim nào đó. Bắt chước mấy diễn viên nước ngoài. Cậu ta bước qua cánh cổng, chỉ mang theo một cái va li nhỏ, nhướng một bên mày lên và quan sát xung quanh. Vẫn còn diễn cơ đấy. Cậu ta mặc một bộ com lê sọc ca rô lòe loẹt, chiếc quần tây dài thòng, chắc phải kéo đến tận cổ. Mũ lưỡi trai trắng. Giày da màu đỏ. Cậu ta hơi trễ miệng xuống rồi thổi nhẹ hơi ra phía con đường, tỏ ra thanh lịch đến độ buồn cười. Tự dưng tôi muốn trêu anh chàng này quá. Dạo này, tôi chán đến độ phải tìm cái gì đánh lạc hướng mình thôi.

“Này. Takiya.”. Tôi có thể thấy tên cậu ta ghi trên tấm thẻ hành lý gắn vào chiếc va ly.

“Lại đây một chút.”

Chẳng buồn nhìn mặt cậu ta lấy một cái, tôi nhanh nhẹn đi về phía trước, và cậu nhóc lẽo đẽo theo sau tôi như thể đang bị hút vào vòng xoáy số phận. Tôi cũng khá tự tin về khoản nắm bắt tâm lý con người. Khi người ta đang phân tâm, cách hiệu quả nhất để thao túng họ là phải tỏ ra uy thế và hoàn toàn lấn lướt. Lúc đó, họ sẽ chỉ là bột nhão trong tay bạn mà thôi. Còn nếu như cố làm đối phương thấy thoải mái bằng cách tỏ ra tự nhiên và thuyết phục họ tin tưởng và cảm thấy an toàn, thật ra, lại có thể khiến họ trở nên cẩn thận và đề phòng bạn hơn.

Tôi đi lên Đồi Ueno. Chậm rãi bước chân lên những bậc thang đá, tôi bảo, “ Theo tôi thì cậu nên đặt mình vào vị trí của ông già nhà cậu đi.”

“Vâng ạ.”, cậu ta đáp, có chút cứng nhắc.

Tôi dừng lại ở bệ đá của bức tượng Saigo Takamori. Trừ chúng tôi ra, không ai khác ở đây cả. Tôi lấy một gói thuốc lá trong tay áo ra, châm lửa một điếu thuốc, và nhìn thoáng qua khuôn mặt cậu nhóc qua ánh lửa que diêm. Cậu ta đang đứng đó bĩu môi với đầy vẻ ngây thơ như một đứa trẻ. Tôi bắt đầu cảm thấy thương cậu ta quá và có lẽ, tôi trêu cậu ta như thế cũng đủ rồi.

“Cậu bao nhiêu tuổi ?”

“Hai mươi ba.” Cậu ta đáp, với chất giọng miền quê đặc sệt.

“Trẻ thế cơ à?”, tôi bất giác thở dài. “Được rồi. Cậu đi được rồi đó.” Tôi còn định nói là tôi chỉ muốn dọa cậu ta một chút thôi, nhưng rồi đột nhiên, tôi chẳng thể kiềm nỗi mối dụ hoặc đang dâng lên trong lòng mình, một mối dụ hoặc chẳng khác nào niềm kích động khi ta phản bội người vợ của mình. Tôi muốn trêu cậu ta thêm một chút nữa.  

“Cậu có tiền không ?”

Cậu ta có vẻ lo lắng và đáp “Có.”

“Đưa tôi hai mươi yên.” Này thì buồn cười lắm đây.

Cậu ta móc tiền ra thật.

“Tôi đi được chưa ?”

Và đương nhiên là tới lượt tôi bật cười rũ rượi và bảo, “Tôi chỉ đùa với cậu thôi. Giỡn chơi ấy mà, đồ ngốc. Giờ cậu thấy Tokyo đáng sợ thế nào chưa. Nào, về nhà đi, để cha cậu đỡ lo. ” Nhưng, thật ra thì, ban đầu tôi không chỉ muốn làm vậy cho vui. Sắp đến lúc phải trả tiền thuê căn nhà ở Hongo rồi.

“Cảm ơn nhé, tôi không quên ông đâu, ông bạn.”

Vụ tự tử của tôi được hoãn lại thêm một tháng nữa.


Source: Dịch từ bản tiếng Anh (với tựa đề là “No Kidding”) trích trong quyển Self Portraits: Tales from the Life of Japan’s Great Decadent Romantic (Ralph F.McCarthy)

Còn đây là link bản gốc tiếng Nhật cho mọi người:  https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/2261_20018.html

~ Dịch: Những người anh trai (Anitachi) ~

Khi Shuji ( tên thật của Dazai sensei) ra đời năm 1909, gia trang rộng lớn của nhà Tsushima có đến hơn mười bảy thành viên thuộc đại gia đình và cũng chừng đó người hầu trong nhà. Người anh cả của ông, Bunji, trở thành người đứng đầu gia đình vào mùa xuân năm 1923, khi cha của họ mất ở Tokyo không lâu sau khi được bổ nhiệm vào “Hội Đồng Quý Tộc” (House of Peers). Shiiji thì sắp nhập học bậc trung học ở Aomori vào thời điểm đó. Tháng Mười Một, năm 1925, Shiiji và em trai Reiji cùng nhiều bạn học đã xuất bản số đầu tiên của tạp chí địa phương Shinkiro (Thận Khí Lâu – nghĩa là “ảo ảnh, ảo vọng”). Mỗi tháng, Shiiji giữ vai trò biên tập và đóng góp những câu chuyện, bản phác thảo và tiểu luận cho tờ báo nhỏ này trong suốt một năm tồn tại ngắn ngủi của nó. Nghe nói là Keiji, người anh nhỏ tuổi nhất trong số ba anh trai của Shuji đã gọi tờ Shinkiro là “trẻ con” và đề nghị anh em mình lập ra một tạp chí “trưởng thành” hơn. Anh ta đặt tên cho tạp chí đó là Aonbo (Thanh Tử – “tuổi trẻ”), dựa trên việc chơi chữ của từ “trẻ con” trong tiếng Nhật là “akanbo”, với nghĩa đen là “xích tử”. Số đầu tiên trong hai số báo của Aonbo phát hành vào tháng Chín năm 1926.  

Reiji, người không xuất hiện trong truyện ngắn “Những người anh trai” đã qua đời vì nhiễm trùng máu vào tháng Một năm 1929, năm mười bảy tuổi. Còn Keiji thì mất vì bệnh lao vào ngày 21 tháng Sáu, năm 1930.


Khi cha tôi qua đời, anh cả của tôi hai mươi lăm tuổi và mới vừa tốt nghiệp đại học, anh hai thì hai mươi ba, anh ba hai mươi, còn tôi thì mười bốn tuổi. Những người anh của tôi đều rất tử tế với tôi, rất trưởng thành và từng trải, khiến tôi gần như không cảm thấy nỗi mất mát và trống trải khi thiếu vắng người cha. Người anh cả chững chạc y hệt như một người cha trong mắt tôi, anh hai thì như một ông chú đầy nhẫn nại, và họ lúc nào cũng hết lòng chăm chút, nuông chiều tôi. Dù những đòi hỏi của tôi có ích kỷ và ngang bướng đến thế nào đi chăng nữa, họ vẫn luôn mỉm cười và chiều theo ý tôi. Họ không cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra và để tôi được tự do làm theo ý mình, nhưng thật sự thì bản thân họ đang phải trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn, phải kiểm soát gia tài hàng triệu yên mà cha chúng tôi để lại, cũng như nắm lấy tầm ảnh hưởng chính trị mà cha đã tích lũy được. Chẳng có một người chú hay ai đó có thể đứng ra, hai người anh lớn nhất của tôi không còn lựa chọn nào khác, mà phải hợp lực với nhau và cố gắng hết sức có thể. Chỉ mới hai mươi lăm tuổi, anh cả tôi trở thành thị trưởng của thị trấn, và đến năm ba mươi mốt tuổi, sau khi gặt hái thêm kinh nghiệm trên chính trường, anh ấy được bầu vào hội đồng của tỉnh.

Anh ấy là ủy viên hội đồng cấp tỉnh trẻ tuổi nhất trên cả nước, và nhờ có sự nổi tiếng này, mà báo chí gọi anh là chàng Hoàng tử Konoe của Tỉnh Aomori, và thậm chí anh ấy còn xuất hiện trong phim hoạt hình nữa.

Mặc cho những lời ca tụng, tán dương như thế, anh cả tôi lúc nào cũng trông có vẻ buồn rầu. Trái tim của anh ấy không dành cho chính trị. Tủ sách của anh tràn ngập những sách văn chương, như Oscar Wilde toàn tập và những tác phẩm của Ibsen, cũng như nhiều tuyển tập của các nhà soạn kịch Nhật Bản. Bản thân anh ấy cũng viết kịch, và thỉnh thoảng, anh gọi các anh chị em trong nhà tập trung lại vào một căn phòng và đọc một tác phẩm mới của mình cho chúng tôi nghe, gương mặt anh bừng sáng với sự mãn nguyện dâng lên từ tận đáy lòng. Lúc đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu hết mọi chuyện, nhưng với tôi, có vẻ như, hầu hết những vở kịch mà anh đọc cho chúng tôi nghe đều mang một chủ đề chung, đó là những nỗi bi ai của số phận. Tôi còn nhớ rất rõ, những nhân vật trong một vở kịch mà anh sáng tác, rõ đến tận những biểu cảm của họ, vở kịch đó là một vở kịch dài, với tên gọi là “Cuộc đấu tranh.”

Khi anh cả tôi ba mươi tuổi, gia đình tôi phát hành một tạp chí văn học nhỏ với tựa đề khá kỳ quặc, “Aonbo” (“Thanh Tử”). Người anh thứ ba của tôi, lúc bấy giờ đang theo học tại khoa điêu khắc của một trường mỹ thuật, giữ vai trò làm biên tập viên. Cũng chính anh là người đã nghĩ ra cái tên này, và anh ấy cũng cực kỳ tự hào về điều đó. Anh cũng thiết kế bìa cho tờ tạp chí này, đó là một mớ hỗn độn khó hiểu và đầy tính siêu thực, được rải bụi bạc lên một cách có chủ đích để trang trí. Anh cả tôi viết một tiểu luận cho số đầu tiên của tờ báo. Anh đặt tên cho nó là “Cơm”, và thay vì tự mình viết, anh ấy đọc cho tôi viết thay. Tôi vẫn còn nhớ chuyện này khá rõ. Chúng tôi lúc đó ở trong căn phòng kiểu phương Tây trên lầu Hai. Anh tôi chắp tay ra sau lưng, vừa đi qua đi lại vừa nhìn lên trần nhà và bảo:

“Được chưa nào? Anh sắp bắt đầu rồi đấy. Em sẵn sàng chưa?”   

“Vâng ạ.”

“Năm nay, tôi bước qua tuổi ba mươi. Khổng Tử từng bảo, “tam thập nhi lập”, nhưng tôi, đừng nói là đứng, tôi thậm chí cảm thấy rằng mình sắp đổ gục xuống rồi. Tôi đã không còn cảm thấy rõ ràng và chắc chắn rằng đời mình đáng sống. Đến mức người ta còn có thể nói là, trừ khoảnh khắc mà tôi đang ăn cơm ra, tôi không hề thật sự “sống”. Tôi dùng từ “cơm” ở đây không mang một ý nghĩa trừu tượng nào hay biểu tượng của cuộc sống hay là ý chí sống còn, nhưng ngay theo nghĩa đen của chính nó. Một tô cơm đầy. Tôi đang nói về cảm giác khi tôi nhai nhồm nhoàm những hạt cơm trắng ngần, mềm mại trong miệng. Một sự thỏa mãn từa tự như của loài vật. Chẳng có tí gì cao thượng, hay quý phái về chuyện này…”

Lúc đó, tôi chỉ là một cậu học sinh trung học, nhưng khi tôi nguệch ngoạc viết lại dòng cảm xúc đang tuôn trào ấy của anh, tôi cảm thấy xót xa cho anh khôn tả. Người ta dành cho anh những lời tâng bốc vô tri và phù phiếm, gọi anh là chàng Konoe của xứ Aomori hay những cái tên vớ vẩn khác, nhưng chẳng ai nhận ra hay thấu hiểu nỗi cô đơn u uất thường trực trong tâm hồn của anh.  

Tuy anh hai tôi không sáng tác câu chuyện hay tiểu luận nào cho số đầu tiên của tờ Aonbo, anh ấy cũng có niềm say mê văn chương không kém. Ngay từ đầu, anh đã là độc giả trung thành của văn hào Tanizaki Junichiro, và cũng rất hâm mộ nhà thơ Yoshii Isamu. Người anh này của tôi có tửu lượng cao và tinh thần hào hiệp của một nhà lãnh đạo trời sinh, nhưng đồng thời cũng là một người rất khiêm tốn và có chừng mực, chẳng bao giờ để mình say sưa quá đà, và lúc nào cũng sẵn sàng cố vấn cho anh trai cả của tôi, cũng như luôn chuyên tâm một mình giải quyết các vấn đề mà chúng tôi gặp phải. “Anh chàng, người đã rời đi/ đến phố đèn đỏ/ chẳng bao giờ quay lại/ Liệu có thể nào/ là con người thật của tôi?” .Tôi tự hỏi, liệu đây có phải là cảm xúc dồn nén trong tim nhà thơ Yoshii, người đã viết ra những dòng này, mà anh tôi vô cùng yêu thích. Anh ấy đã từng đăng một tiểu luận về chim bồ câu lên một tờ báo địa phương, và khi nó được xuất bản, cùng với bức hình chụp anh ấy, anh đã khoe cho chúng tôi xem và đùa rằng “Ngắm đi. Nhìn anh giống dân văn chương chứ hả? Tấm này, anh trông như Yoshii Isamu phải không nào?” Anh ấy có khuôn mặt cũng khá ưa nhìn, khá giống với diễn viên kịch kabuki Sadanji. Nhưng khuôn mặt anh cả tôi thì trông thanh tú hơn, và cả nhà tôi nhất trí là anh ấy giống diễn viên Shocho. Cả hai người anh này của tôi đều biết được những sự so sánh này, và khi họ uống rượu, hai anh ấy sẽ ‘diễn” lại những cảnh trong vở “Tự tử đôi ở Núi Toribe” hay “Con ma của những chiếc đĩa” một cách nhịp nhàng, với giọng sang sảng theo kiểu diễn kịch kabuki.

Còn người đang nằm dài trên chiếc sofa trong căn phòng kiểu phương Tây trên lầu Hai là anh trai thứ ba của tôi, đang khúc khích cười chế giễu những trò kịch này. Mặc dù anh ấy ghi danh vào trường cao đẳng mỹ thuật, người anh này của tôi, với thể trạng yếu ớt, chẳng hề nỗ lực hay cố gắng điêu khắc, mà lại đắm mình vào thế giới văn chương. Anh ấy cũng quen nhiều người bạn có cùng niềm đam mê văn học, và cùng với nhau, họ lập ra một tạp chí nhỏ mang tên “Bước Ngoặt”. Anh tôi vẽ hình minh họa bìa và thỉnh thoảng cũng đóng góp vài câu chuyện nhẹ nhàng – tôi nhớ một truyện tên là “Mọi thứ đều kết thúc với một nụ cười buồn”. Bút danh của anh là Yumekawa Riichi. Yumekawa, được viết với ký tự mang nghĩa “giấc mơ” và “sông” (“Mộng Hà”), khiến cho các anh chị lớn trong nhà ngã ngửa ra cười vì nghe sao mà sướt mướt và ủy mị quá. Anh từng đặt in danh thiếp với bút danh của mình bằng chữ la tinh, và khi anh đưa một tấm được trang trí khá màu mè và kiểu cách cho tôi, tôi giật nảy mình khi thấy trên đó ghi là RIICHI UMEKAWA. Tôi hỏi anh ấy xem có phải là anh ấy đã đổi bút danh sang “Sông Mơ” hay không ( “Mơ” đây không phải là “giấc mơ” mà là “quả mơ” ), có lẽ, là để chỉ vở kịch về cô geisha Umegawa và người yêu là chàng Chubei.

“Trời đất, em nói không sai!” anh ấy thốt lên, mặt đỏ bừng vì xấu hổ. “Nó ghi là ‘Umekawa.’ Đâu phải tên anh!” Anh ấy đã đưa danh thiếp của mình cho bạn bè và giáo sư và cũng gửi chúng ở những quán trà mà anh hay lui tới. Lỗi này cũng chẳng phải do nhà in; có vẻ như chính anh tôi là người yêu cầu và chỉ rõ cách đánh vần như thế. Vì chữ “u” được phát âm là “yu” trong tiếng Anh nên đây cũng là một lỗi thông thường mà ai cũng có thể mắc phải, nhưng vụ việc này chỉ làm cho câu chuyện về bút danh của anh ấy thêm buồn cười mà thôi. Chúng tôi bắt đầu gọi anh ấy bằng những biệt danh như là Giáo Sư Sông Mơ, hay Tiên Sinh Chubei,…  

Như tôi đã nhắc đến trước đó, người anh này của tôi có thể trạng yếu ớt, và mười năm trước, anh ấy qua đời, khi mới hai mươi tám tuổi. Anh ấy có một khuôn mặt vô cùng đáng yêu. Những chị em gái của tôi rất hay đọc một tạp chí hằng tháng dành cho thiếu nữ. Trang đầu tiên của tạp chí này lúc nào cũng do một người, nếu tôi không lầm, tên Fukiya Koji vẽ. Trang bìa này bao giờ cũng có hình các cô gái trẻ với dáng người mảnh mai cùng đôi mắt to tròn, trông giống hệt nét đẹp trên gương mặt của anh trai tôi, đến mức tôi cũng thỉnh thoảng nhìn những hình vẽ này rồi ngước lên mơ màng ngắm khuôn mặt của anh, không hề ghen tỵ mà cảm thấy hài lòng, thú vị và buồn cười một cách kỳ lạ.   

Bản chất của anh ấy thì khá là nghiêm túc – thậm chí còn có thể nói là giản dị đến mức khắc khổ – nhưng sở thích của anh lại khiến anh trông như một tay kiểu cách (“les precieux”), như những chàng công tử mê văn chương, từng xuất hiện rất nhiều ở nước Pháp. Anh ấy cũng luôn giữ lấy tính hài hước, và lúc nào cũng chế giễu người khác, thậm chí ngay cả khi anh đang duy trì bầu không khí lãnh đạm và tách biệt xung quanh mình. Ai cũng bị anh châm chọc qua. Anh cả tôi đã kết hôn và đứa bé gái đầu lòng của anh chào đời ngay trước kỳ nghỉ hè, thời điểm mà tất cả những người chú, người cô còn đang đi học của bé sẽ rời những ngôi trường ở Tokyo, Aomori và Hirosaki để về nhà chơi. Chúng tôi tụ họp lại ở một phòng và tranh nhau ầm ĩ để ôm bé, nào là “Đến đây với người chú từ Tokyo của cháu nào!”, “Nào nào, tới đây, tới với cô ở Aomori nhé!”,… và lúc đó, anh ba của tôi sẽ đứng cách xa mọi người, chê đứa cháu gái mới sinh với những câu như là “Eo ơi, da nó còn đỏ hỏn kìa. Ghê quá.” Nhưng rồi, cuối cùng, anh ấy thở dài đầy cam chịu, rồi dang tay ra và nói “Nào, đến đây đi. Đến chơi với người chú từ Pháp về của cháu nào.”

Đến giờ ăn tối, chúng tôi đều ngồi vào chỗ được chỉ định cho mình, với bà nội tôi, mẹ tôi, anh cả, anh hai, anh ba và tôi ở một bên phòng, và người thư ký của gia đình, chị dâu tôi và những người chị của tôi ngồi bên đối diện. Dù là vào những ngày hè oi bức nhất đi nữa, hai người anh lớn nhất của tôi vẫn thích uống sake nóng và mang theo những chiếc khăn lau to tướng để lau khô mồ hôi rịn ra trên trán mỗi khi họ nhấp rượu. Cả hai người đều có tửu lượng khá cao, và tuy rằng hai người họ nốc hơn hai lít rượu mỗi đêm, chẳng lần nào họ say hay khó chịu. Anh ba thì chẳng bao giờ tham gia vào những chầu rượu này, nhưng sẽ ngồi một mình trước mâm, và với vẻ cao sang, quý phái, anh rót rượu vang vào một chiếc ly thủy tinh trang nhã, uống cạn, rồi cắm cúi ăn, sau đó cúi chào một cách nghiêm nghị và xin phép rời bàn, rồi biến mất. Một màn trình diễn thật tuyệt vời.

Người anh này giữ vai trò biên tập viên cho tờ Aonbo, nên anh ấy sai tôi đi thu bản thảo từ các thành viên khác trong gia đình, và khi tôi mang chúng đến cho anh đọc, anh luôn khúc khích cười với vẻ khinh bỉ. Sau khi tôi chép xong tiểu luận “Cơm” của anh cả, và hân hoan mang bản thảo đến chỗ “biên tập viên”, anh ấy liền hô hố cười như thường lệ và bắt đầu chế giễu một cách tàn nhẫn, rằng “Cái giống gì đây? Tuyên bố mới trang trọng làm sao! “Khổng Tử nói…. “ Em tin được à? Nhảm nhí thật!”. Dù anh ấy hoàn toàn cảm nhận được nỗi sầu khổ thấm đượm trong tâm hồn của người anh cả, anh ấy vẫn luôn cười nhạo anh trai mình như thế, chỉ để giữ gìn hình tượng của chính bản thân anh. Chắc hẳn là các bạn cũng muốn biết, tài văn chương của “biên tập viên” hay sỉ vả tác phẩm của người khác này giỏi đến mức nào phải không? Ừ thì, nếu bạn muốn biết đến vậy, tôi đành phải nói thật là, anh ấy chẳng giỏi lắm đâu. Mặc dù anh ấy khá thận trọng khi không đăng bất kỳ bài văn xuôi nào trong số phát hành đầu tiên của tờ tạp chí với cái tên kỳ quặc mà chúng tôi lập ra, anh ấy có sáng tác hai bài thơ trữ tình. Giờ nghĩ lại thì, tôi thật chẳng tài nào tưởng tượng nổi tiêu chí phù hợp để chúng được đánh giá là “xuất sắc” cả. Sao một người như anh ba tôi lại có thể cho đăng những câu thơ như thế được? Giờ đây, tôi chỉ cảm thấy thật đáng tiếc khi nhớ lại việc này. Tuy chẳng dễ dàng gì đâu, nhưng xin hãy để tôi giúp mọi người hình dung ra những bài thơ đó như thế nào nhé. Một bài tên là “Cây chuối hoa đỏ”.

Đó là một cây chuối hoa đỏ/ Cây chuối hoa đỏ giống như trái tim tôi… “ vân vân. Tin tôi đi, chép lại những câu kiểu như thế này không dễ chút nào. Còn bài thứ hai thì tên là “Thanh cúc” (tên một loài hoa), và nó thì thế này:

Những bông thanh cúc bé xinh ơi/ Một, hai, ba, tôi ấp ủ vào lòng…” Và cứ thế. Ai lại nghĩ ra những bài thơ kiểu như vậy chứ? Giờ đây, tôi chợt nghĩ, nếu như anh chàng bảnh bao, kiểu cách nhà mình mà suốt đời phải giấu kín những “báu vật” nho nhỏ của anh thì cũng chẳng tốt hơn chút nào đâu. Nhưng mà, lúc đó thì tôi thật sự rất ngưỡng mộ anh ấy, vì lúc nào anh ấy cũng trung thành với nguyên tắc “hài hước, giễu nhại” của mình. Và vì anh ấy cũng là thành viên của một nhóm văn học khá nổi tiếng ở Tokyo, nhóm đã cùng nhau phát hành tạp chí “Bước Ngoặt”, và cũng vì thế mà anh ấy lại càng tự hào hơn nữa với hai bài thơ này của mình, khi xem qua bản in thử ở nhà in địa phương, anh đã đọc to lên với nhịp điệu nhịp nhàng và du dương đến kỳ lạ (“Đó là một cây chuối hoa đỏ/ Cây chuối hoa đỏ giống như trái tim tôi”), thậm chí ngay cả tôi cũng dần nghĩ rằng, chúng, đại loại cũng là một dạng kiệt tác.

Tôi có rất nhiều kỷ niệm với tờ Aonbo, đắng cay có, mà buồn cười cũng có, nhưng chỉ là hôm nay tôi không muốn kể lại mà thôi. Thay vào đó, tôi nghĩ là mình sẽ kể cho mọi người nghe về cái chết của người anh này.

Khoảng hai hay ba năm trước khi mất, khi những con vi khuẩn bệnh lao bắt đầu gặm nhấm và ăn mòn cơ thể anh, khiến cuộc đời anh tôi từ dạo đó phải gắn chặt vào giường bệnh. Dù vậy, anh ấy vẫn luôn vui cười và lúc nào cũng tràn đầy sức sống, cũng chẳng hề nhập viện hay tỏ ý muốn về miền quê nghỉ ngơi. Anh thuê một căn nhà ở Totsuka, Tokyo và sống một cách thong dong, nhàn nhã, để một căn phòng cho cặp vợ chồng đồng hương ở, còn những căn còn lại thì của anh. Khi tôi học lên bậc cao trung, vào những kỳ nghỉ lễ, tôi hiếm khi về nhà mà đến Totsuka ở với anh ấy, và rồi anh em tôi sẽ cùng nhau lang thang dạo chơi khắp Tokyo. Anh ba cũng là một tay bịa chuyện thứ thiệt. Một lần nọ, khi chúng tôi đang tản bộ ở quận Ginza, đột nhiên anh ấy khẽ thốt lên và trỏ vào một quý ông bệ vệ, “A! Kikuchi Kan kìa!” một cách tỉnh bơ, khiến tôi tưởng thật và chẳng hề nghi ngờ gì cả. Lần khác, khi chúng tôi đang uống trà ở tiệm Fujiya, Ginza, anh ấy thúc khủy tay vào tôi và thì thầm, “Sasaki Mosaku kìa. Nhìn đi. Ngồi bàn ngay sau lưng em đó.” Phải tận nhiều năm sau đó, khi tôi được dịp gặp mặt trực tiếp hai nhà văn nổi tiếng này, thì tôi mới nhận ra là anh ấy đã lừa tôi. Tôi cũng nhớ ra, trong số những quyển sách của anh ấy, có một tập truyện ngắn của nhà văn Kawabata Yasunari, và trên trang bìa của quyển đó có câu đề tặng viết bằng bút lông, “Gửi Yumekawa Riichi, từ tác giả quyển sách này.” Anh ấy kể tôi nghe là ngài Kawabata đã tặng anh quyển sách sau khi hai người quen biết nhau ở khu nghỉ dưỡng suối nước nóng tại Izu hay đâu đó, nhưng giờ thì tôi cũng không thể không nghi ngờ câu chuyện này. Lần sau gặp mặt, tôi sẽ phải hỏi ngài Kawabata mới được. Sẽ tuyệt lắm nếu chuyện này là thật, nhưng theo tôi thấy thì, chữ viết tay trên lời đề tặng đó hơi khác so với nét chữ của ngài Kawabata trong những bức thư mà ngài ấy gửi tôi. Anh ba tôi lúc nào cũng trêu đùa người khác một cách vô hại như thế. Lúc nào bạn cũng phải cẩn thận, đề phòng anh ấy. Tôi cũng biết “lừa phỉnh, chơi khăm” người khác là một trong những thú vui yêu thích của các anh chàng precieux, chắc chắn là anh tôi sẽ không kiềm chế được niềm vui thú này đâu.

Anh ấy qua đời vào mùa hè sau khi tôi vào đại học. Vào dịp Tết năm ấy, anh tôi treo một cuốn thư pháp tự tay viết ở góc phòng khách, với dòng chữ “Mùa xuân này, lòng như lòng Phật/ Chẳng tìm vui nơi rượu, bánh mì.”. Khách đến thăm anh, ai cũng cười ngặt nghẽo khi thấy anh viết như vậy, còn anh tôi thì nhếch miệng cười mỉa mai. Tuy đây chắc là những lời thật lòng của anh mà không phải đùa cợt, nhưng những người bạn đó, đã quá quen với những trò phỉnh phờ của anh mà chẳng ai lo ngại cho sức khỏe của anh ấy cả. Thậm chí còn rất lâu trước khi anh ấy bắt đầu đeo một chuỗi tràng hạt trên tay và tự xưng là “bần tăng”. Anh ấy đã nói vậy, với giọng điệu vô cùng nghiêm túc, đến nỗi những người bạn của anh xem đó là một cái mốt và bắt chước theo, tự gọi bản thân mình giống như anh tôi. Nhưng mà, đối với anh ấy thì, đó không hề đơn giản chỉ là một trò đùa, mà là điều anh muốn nói, vì cho dù anh ấy có thể cảm nhận được cái chết đang đến gần, tính hài hước đã ngăn không để anh tỏ ra đau buồn một cách tự nhiên. Thay vào đó, anh ấy cố hết sức biến mọi chuyện thành một trò vui, lần chuỗi hạt như một nhà sư Phật giáo đích thực để chọc cười mọi người. Anh ấy mời chúng tôi đến Takadanobaba và dẫn chúng tôi lắc lư bước vào một phòng trà ở đó, rồi nói, đại loại như “Bần tăng thú nhận là vị tiểu thư kia đã lay động tim người mất rồi. Thật hổ thẹn làm sao, nhưng cũng là bằng cớ rằng người còn sống.” Tuy nhiên “nhà sư” này của chúng tôi cũng khá là “công tử”, và nếu như trên đường tới phòng trà, và sực nhớ ra mình chưa đeo nhẫn, anh ấy sẽ chẳng ngần ngại phóng ngược về nhà, lấy nhẫn đeo và quay lại chỗ chúng tôi, vô cùng thoải mái và tự nhiên: “Xin lỗi đã để mọi người chờ lâu.”  

Lúc tôi mới vào đại học, tôi sống ở nhà trọ tại Totsuka, chỉ cách chỗ anh tôi ở có vài bước chân, nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau một, hai lần mỗi tuần để tránh làm ảnh hưởng đến việc học hành của người còn lại. Khi anh em tôi gặp nhau thì chúng tôi nhất định sẽ đi dạo phố, lắng nghe những người kể chuyện rakugo biểu diễn hay la cà khắp các phòng trà, và cũng trong thời gian này, anh tôi đã “cảm nắng” một cô gái. Nhưng thật không may, do cái tính thích làm dáng và tỏ ra thanh lịch của mình, mà anh ấy bị ảnh hưởng tới mức tin rằng những người phụ nữ chẳng hề hứng thú gì với mình, và cơ hội của bản thân anh thì thấp đến mức đáng thương. Cô gái mà anh thầm yêu làm việc ở phòng trà Takadanobaba. Chúng tôi hay đến đó, nhưng lòng kiêu hãnh của anh tôi đã ngăn không cho anh ấy liếc mắt đưa tình hay buông lời chòng ghẹo cô ấy một cách thô tục; anh tôi chỉ lặng lẽ, lén lút vào, uống một ly cà phê và rồi lại len lén quay ra.

Một tối nọ, anh em tôi lại cùng nhau đến phòng trà, và, cũng như thường lệ, anh ấy chẳng có chút tiến triển nào trong chuyện ái tình. Chúng tôi uống cà phê rồi đi, nhưng trên đường về nhà, anh trai tôi ghé ngang cửa hàng hoa, và mua một bó hoa cẩm chướng và hoa hồng thật to, gần mười yên. Lúc anh ấy bước ra với bó hoa to lớn trên tay, đứng tần ngần, bồn chồn và sốt ruột, mãi cho đến khi tôi, người hiểu hết những tâm tư tình cảm của anh, phóng tới, giật lấy bó hoa khỏi tay anh và chạy như bay thẳng tới phòng trà, tôi đứng ở góc khuất của ô cửa, và gọi cô gái.

“Cô nhớ ra anh trai tôi mà phải không? Cô đừng quên anh ấy nhé. Đây này, anh ấy tặng cô đấy.” Tôi nói một hơi và đưa cô ấy bó hoa, nhưng cô ta chỉ đứng ngây ra với vẻ mặt chán ngắt. Tôi thật lòng muốn đấm thẳng vào mặt cô ta. Chán nản và thất vọng, tôi nặng nề lê bước về nhà anh mình, và thấy anh ấy đã nằm trên giường, chăn bọc kín người, lòng trĩu nặng nỗi u sầu và khó chịu. Lúc đó, anh tôi hai mươi tám tuổi, còn tôi thì hai mươi hai.

Từ tháng Tư năm đó, anh tôi bắt đầu điêu khắc với niềm đam mê mãnh liệt đến lạ thường. Anh ấy thuê một người mẫu đến nhà để tạc một bức tượng bán thân lớn. Trong khoảng thời gian này, tôi ít khi đến thăm anh ấy vì không muốn quấy rầy anh, nhưng một tối nọ, khi tôi ghé qua nhà, thì thấy anh ấy đang nằm trên giường. “Anh quyết định rồi, anh sẽ từ bỏ cái tên Yumekawa Riichi”, anh ấy nói với tôi, hai má ửng đỏ. “Từ giờ trở đi, anh chỉ là Tsushima Keiji mà thôi.” (Tsushima Keiji, tất nhiên chính là tên thật của anh.) Anh ấy tuyên bố điều này với vẻ nghiêm trọng, khác hẳn với lối cư xử hài hước thường ngày của anh, khiến tôi suýt bật khóc.  

Hai tháng sau, trước khi kịp hoàn thành bức điêu khắc, anh tôi qua đời. Đôi vợ chồng ở trọ nhà anh cho tôi biết rằng có gì đó rất không ổn đang xảy ra với anh và tôi cũng nhận ra điều đó. Vì thế, chúng tôi liền hỏi ý kiến bác sĩ đang điều trị cho anh, người đã bình tĩnh cho chúng tôi biết rằng, thời gian của anh tôi, chỉ còn lại bốn, năm ngày. Tôi ngã quỵ. Liền ngay sau đó, tôi cuống cuồng gửi một bức điện tín cho người anh cả nơi quê nhà, và suốt hai đêm sau đó, trong lúc chờ anh ấy đến Tokyo, tôi ngủ lại bên người anh bệnh tật của mình, tự tay móc sạch đờm dãi nghẹn đầy trong cổ họng của anh. Khi người anh lớn nhất của chúng tôi đến, anh ấy lập tức thuê một y tá đến chăm sóc, và bạn bè bắt đầu ghé thăm anh. Nhờ vậy mà tinh thần tôi cũng khá hơn phần nào, nhưng hai đêm đó, hai đêm mà tôi đã dành từng phút từng giây ngóng trông người anh cả của chúng tôi đến nơi, chẳng khác gì địa ngục, dù là với tôi lúc ấy hay tận bây giờ. Dưới ánh đèn điện tù mù, anh Keiji bảo tôi mở hết những ngăn tủ trong phòng anh và xé hết những lá thư hay tập vở của anh, trong khi anh nằm đó nhìn tôi chăm chú với vẻ ngạc nhiên trong mắt khi trông thấy tôi vừa xé vụn những trang giấy vừa khóc nức nở. Tôi có cảm tưởng như thể chỉ còn tôi và anh là hai con người còn sót lại trên thế gian này.

Khi anh ấy trút hơi thở cuối cùng, bên anh là bè bạn, người anh trai cả của chúng tôi và cả tôi nữa, tôi điên cuồng, hoảng hốt gọi tên anh. Anh ấy đáp lại một cách rõ ràng, trong trẻo, bảo rằng: “Anh còn cái kẹp cà vạt đính kim cương và sợi dây chuyền bạch kim. Đều cho em hết đấy.” Anh ấy nói dối. Cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, anh ba tôi, đã không thể bỏ được thói thích làm dáng của mình, vẫn là chàng công tử “precieux” chính hiệu, anh ấy đã cố lừa tôi một cách màu mè như thế này đây. Cái tính thích trêu chọc và chơi khăm người khác của anh ấy đã trở thành một phần không thể thiếu của con người anh, đến nỗi, có lẽ, anh cũng chẳng nhận ra. Tôi cũng biết là, thực ra, anh ấy chẳng có cái kẹp cà vạt đính kim cương hay dây chuyền bạch kim nào cả, và điều đó càng khiến cho tính thích chưng diện của anh tôi thêm buồn hơn trong mắt tôi, và rồi tôi òa khóc lên như một đứa bé. Anh trai tôi, người tuy không để lại bất kỳ tác phẩm nào trên đời, lại là người nghệ sĩ tài ba nhất. Anh trai tôi, người với khuôn mặt đẹp nhất trần đời, lại bị các cô nàng hoàn toàn ngó lơ.

Lòng tôi muốn viết một cái gì đó về anh ấy không lâu sau khi anh mất, nhưng tôi đã suy nghĩ lại và nhận ra rằng, không chỉ mình tôi đang đau buồn, suy sụp vì cái chết của anh, rằng tất cả mọi người, ai cũng phải trải qua nỗi đau như thế khi một người thân yêu của họ qua đời, và đó sẽ là lời xúc phạm cay nghiệt đối với các độc giả của tôi nếu như tôi thể hiện những cảm xúc này như thể chỉ mình tôi được phép làm vậy, và tôi thấy nhụt chí hẳn đi. KEIJI MẤT LÚC 4 GIỜ SÁNG. SÁNG NAY. Lúc anh cả của tôi, một người đàn ông ba mươi ba tuổi, viết bức điện này để gửi về nhà, anh ấy đột nhiên khóc nức nở, rồi nước mắt anh tôi cứ thế tuôn trào ra thành dòng, và cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại cảnh anh ấy nghẹn ngào khóc như thế, thì lồng ngực ốm o, héo mòn của tôi lại quặn lên, cuộn trào cảm xúc. Đối với tôi, dù nhiều tiền của đến đâu đi chăng nữa, thì những người anh em mất cha từ quá sớm thực sự rất tội nghiệp, đáng thương.   


Source: Dịch từ bản tiếng Anh trích trong quyển Self Portraits: Tales from the Life of Japan’s Great Decadent Romantic (Ralph F.McCarthy)

Link tiếng Nhật trên Aozora cho mọi người:  https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/239_20003.html

~ Dịch: Nghĩ về Zenzo (Zenzo o omou) ~

Kasai Zenzo (1887-1928) là một nhà văn quê ở Hirosaki, một thị trấn ở Tsugaru, nơi Dazai theo học bậc trung học. Dazai dường như có một sự đồng cảm đặc biệt với Zenzo – một người đàn ông túng quẫn và bệnh tật, người đã hi sinh mọi thứ để phục vụ cho nghệ thuật của mình để rồi nhận ra rằng mình không thể tiếp tục bám trụ lại ở Tsugaru nữa. Kon Kan’ichi, hình mẫu cho nhân vật “Kono Kaichi” trong câu chuyện này, sau này đã viết một tiểu luận, trong đó có chi tiết “Những người ở quê của Zenzo không nghĩ tốt về ông ta… Thậm chí không ai muốn kết giao với ông ấy.” Kon cũng tả lại những hành vi của Dazai trong buổi họp mặt “Mùa Thu Quê Nhà”, y như những gì Dazai đã kể trong câu chuyện này.

Bà Michiko, người vợ thứ hai của Dazai, cũng thể hiện điều này trong một tiểu luận khác:

“Với tôi, nhiều thứ mà Dazai viết là sự cường điệu thô bạo những điều đã xảy ra, hoặc thậm chí là tự biên ra nhưng lại có thể khiến người ta cảm thấy như “người thật việc thật”. Tuy nhiên, những gì diễn ra ở buổi họp mặt văn nghệ sĩ vùng Tsugaru thì được kể lại khá chính xác trong “Nghĩ về Zenzo”… Tôi nhớ là anh ấy đã ngồi xe kéo về nhà đêm đó và kể tôi nghe rằng mình đã hành động ngớ ngẩn như thế nào. Còn nữa, đoạn về người bán hoa hồng, so với những gì tôi đã chứng kiến thì cũng chỉ đúng khoảng năm mươi phần trăm.”


Cứ nói thẳng ra những điều anh nghĩ. Những điều anh phải lên tiếng, mà chẳng cần giấu giếm chi hết. Không cần bông đùa hay cười nhăn nhở một cách ngu ngốc nữa. Chỉ một lần trong đời anh thôi, hãy nói lên sự thật.

_  Nếu tôi mà mà làm theo như vậy, thì tôi sẽ phải ngồi tù lần nữa. Tôi sẽ phải lao đầu xuống biển một lần nữa thôi. Tôi sẽ phải lần nữa trở thành một gã điên. Bạn sẽ không trốn tránh tôi chứ, nếu chuyện đó xảy ra? Đúng vậy, tôi sẽ luôn luôn nói dối. Nhưng bạn là người duy nhất mà tôi chưa từng dối gạt bao giờ. Lúc nào bạn cũng nhìn thấu tôi một cách dễ dàng rồi còn gì, phải không nào? Nếu nói về những gã dối trá hiểm độc, có lẽ trong số những người mà bạn kính trọng nhất cũng có một vài gã đấy. Đúng rồi, gã đó đấy. Với tôi, gã thật kinh tởm. Tôi căm ghét hắn, quyết tâm để không trở nên giống hắn bao nhiêu thì, tôi lại thành ra giống hắn bấy nhiêu, thậm chí biến cả những lời nói thật nghe như nói dối. Vẩn đục dòng nước. Nhưng tôi không lừa bạn đâu. Một lần nữa, hôm nay, tôi sẽ kể bạn nghe một câu chuyện, không sâu sắc đâu, và còn nghe như dối trá nữa, nhưng thật ra thì đó là sự thật đấy.

Bình minh chính là đứa con của hoàng hôn. Nếu không có ánh tà dương, hừng đông sẽ chẳng bao giờ ló dạng. Hoàng hôn luôn cố nói với chúng ta rằng:” Tôi đã già yếu và mỏi mệt lắm rồi. Các bạn đừng cứ mãi ngắm nhìn tôi nhé. Đừng yêu tôi nữa. Tôi không sống lâu trên đời nữa đâu. Nhưng sáng mai, từ phía đông bầu trời, một mặt trời mới sẽ được sinh ra. Hãy hứa với tôi là mọi người sẽ làm bạn và đồng hành bên cậu ấy nhé. Tôi đã nuôi dưỡng và chăm sóc cậu ấy thật dịu dàng. Cậu ấy là một đứa trẻ xinh xắn và khỏe mạnh – thật tròn trịa và đầy đặn.” Khi hoàng hôn khẩn cầu bạn như thế, những người bạn của tôi ơi, liệu các bạn có thể chế nhạo và xỉa xói hay gọi đó là bệnh hoạn hay suy đồi không? Tên lưu manh nào mà dám vỗ ngực khoanh tay tự hào rằng “Đương nhiên tao dám” chính là gã khốn nạn nhất trần đời. Những tên ngu ngốc như bọn chúng đã biến thế gian này thành một nơi khó sống hơn bao giờ hết.

Thứ lỗi cho tôi. Thật không đúng khi nói như thế. Tôi chẳng có tư cách gì để đứng trên nhân gian mà diễn vai của một quan tòa hay thẩm phán. Tôi chẳng có quyền gì mà phán xét người ta. Tôi là đứa con của quỷ dữ. Vô phương cứu chữa. Tôi ngờ rằng tội lỗi trong quá khứ của tôi nặng nề hơn bạn gấp hàng chục, hàng trăm lần. Và ngay cả bây giờ, tôi vẫn tiếp tục gây nên tội nghiệt. Dù cho tôi có canh phòng bản thân mình đến mức nào đi nữa, thì cũng vô vọng thôi. Không một ngày nào trôi qua mà tôi không làm chuyện xấu. Tôi có thể phủ phục trước Thượng Đế, tự trói chặt hai tay và cầu nguyện một cách thành tâm, nhưng, dù có như thế thì, trước khi tôi kịp nhận ra, trước khi tôi nhận ra, thì tôi đã phạm phải một tội lỗi vô cùng tồi tệ rồi. Tôi là một gã đáng bị quất roi. Quất cho đến khi da bật máu; tôi chỉ có thể câm nín mà chịu đựng.

Mặt trời không hiện ra trước thế gian với nụ cười xấu hổ và khó coi như lúc hoàng hôn. Nó xuất hiện với vẻ tròn trịa và đầy đặn, với lòng nhiệt thành thơ ngây tỏa ra rạng ngời, cùng với niềm tin chắc chắn rằng những ước vọng của mình sẽ được toại nguyện. Nó đã trải qua một thời hoàng kim tỏa sáng chói lòa khi nhẩn nha, thong thả lướt ngang bầu trời. Giờ nó đã già yếu, nhưng nó không sinh ra như thế. Nhận thức về sự xấu xa và tội lỗi – cái xấu, cái ác của chính bản thân mình – đã khiến nó yếu đi. “Xưa thì ngự tại ngôi vương / Nay thì ngồi ở trong vườn ngắm hoa.” Một người bạn của tôi đã viết những dòng này.

Vườn nhà tôi cũng có những khóm hoa hồng. Cả thảy tám khóm như thế. Nhưng chẳng bông nào nở. Tôi bị lừa mua những bông hồng này. Cú lừa này giả dối tới mức gần như là tống tiền tôi vậy, và đã khiến tôi buồn khôn tả.

Đầu tháng Chín, tôi dời nhà từ Kofu về Mitaka. Ngôi nhà mới này nằm giữa khu đất nông nghiệp, và hình như tôi ở đây được bốn ngày thì vào khoảng buổi trưa của ngày thứ tư, có một người phụ nữ nhà nông đột nhiên xuất hiện trước sân nhà tôi và “ Chào ngài!” với giọng xun xoe ngọt xớt. Lúc đó, tôi đang viết thư, nhưng tôi đã dừng bút và quay sang nhìn mụ ta. Đó là một người phụ nữ to béo, đẫy đà, khoảng ba mươi lăm hay ba mươi sáu tuổi. Khuôn mặt mụ hơi đen với gò má đầy đặn, trông như một hạt dẻ khổng lồ , cùng cặp mắt ti hí lóe lên nhìn tôi khi mụ ta nhe hàm răng trắng của mình ra với nụ cười ghê tởm. Tôi lờ mờ nhận ra rằng một chuyện gì đó khiến mình khó chịu sắp phát sinh, thế nên tôi lờ đi không đáp lại, mà chỉ chờ xem mụ ta nói gì.

Mụ cúi chào tôi thật sâu, rồi liếc nhìn lên khuôn mặt tôi “Chào ngài”, mụ lặp lại. “Chúng tôi là những người nông dân ở khu đất quanh đây. Người ta sắp xây một ngôi nhà trên mảnh đất này, và ngài xem, những bông hồng này, chúng tôi phải đào chúng lên, ôi chúng thật đáng thương, chỉ vì chúng nằm ngay trên mảnh đất đó. Chúng tôi thật đau lòng khi vứt chúng đi như thế, nên chúng tôi tự hỏi là, liệu ngài có thể thương tình cho chúng tôi trồng chúng lại trong vườn của ngài không. Chúng tôi đã trồng những khóm hoa này sáu năm nay rồi – ngài hãy nhìn xem, rễ chúng dày thế này này – và mỗi năm, chúng đều nở những đóa hoa thật xinh đẹp. Tôi thề đấy, chúng tôi làm ở ngay đây, nên chúng tôi sẽ thường xuyên ghé qua và chăm sóc chúng cho ngài. Chúng tôi có đủ mọi loại hoa trên cánh đồng của mình, cả thược dược và tu líp nữa, thưa ngài, ngài chỉ cần cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ mang đến trồng cho ngài ngay. Nếu không vì chúng tôi tin rằng ngài là một người tốt bụng, chúng tôi sẽ không xin ngài nhận những khóm hoa của mình đâu. Chúng tôi rất quý nơi này, và chúng tôi cũng biết ngài là người tốt, và vì thế nên chúng tôi mới xin ngài giúp đỡ.”

Mụ ta cố nói với giọng dè dặt. Tuy nhiên, tôi thừa biết là mụ đang dối gạt mình. Người chủ nhà của tôi sở hữu toàn bộ khu đất quanh đây. Chính ông ta đã nói điều này với tôi khi tôi thuê căn nhà. Tôi cũng biết mặt hết các thành viên trong gia đình ông ấy, gồm một ông già, người con trai, con dâu và cháu nội ông ấy. Chẳng có một ai trông như “người phụ nữ nông dân” thô tục và gian xảo này. Chắc chắn là mụ đoán rằng tôi mới dọn về đây bốn hôm trước, nên tôi có lẽ không biết hết người khu này và chắc là tôi dễ bị lừa lắm. Ngay cả cách ăn vận của mụ ta cũng thật lố bịch. Bộ quần áo dành cho người hầu không dính một vết bẩn, được thắt gọn gàng bởi chiếc khăn quấn màu oải hương, cùng một chiếc khăn quấn đầu, găng tay và xà cạp màu xanh sẫm, với đôi giày rơm mới toanh, cả chiếc áo lót bông nữa – tất cả đều hoàn hảo. Đúng hình mẫu người phụ nữ nông dân mà bạn sẽ bắt gặp trên sân khấu. Tôi dám chắc rằng mụ ta là một kẻ lừa đảo, và đây chính là trò bịp thuộc loại xấu xa nhất. Điều đáng kinh tởm nhất là giọng điệu và thái độ của mụ ta còn có cái vẻ làm dáng một cách thô bỉ nữa. Nhưng tôi lại không thể ngắt lời hay đuổi mụ ta đi.

“Cô quả là tốt bụng khi chịu khó đến vậy. Liệu tôi có thể xem qua những khóm hoa này không?” Những từ ngữ lịch sự thốt ra từ chính miệng tôi khiến tôi giật mình. Tôi cảm thấy cơ thể mình trở nên vô lực, mỏi mệt và đầy cam chịu – chỉ là do “vận may” của tôi làm tôi bị nhắm vào như là một gã khờ dễ bịp – và tôi thậm chí còn cố nặn ra một nụ cười miễn cưỡng khi bước ra hành lang. Tôi, chính tôi là một gã mềm yếu đầy đê tiện; tôi có quyền gì mà chỉ trích người ta. Những khóm hoa hồng được gói trong chiếc chiếu rơm, tám khóm cả thảy, mỗi khóm cao chừng hơn ba mươi centimet. Chẳng khóm nào có hoa. Cả nụ cũng không.

“Cô có chắc là chúng sẽ-”

“Chúng sẽ nở, sẽ nở mà”, mụ ta đáp trước khi tôi kịp dứt lời, cố mở to cặp mắt ti hí của mình hết mức có thể. Cặp mắt của mụ âm ẩm, cứ như là nước mắt chực trào ra. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Mụ ta đích thực là một kẻ lừa đảo. Khi người ta đang nói dối, mắt họ lúc nào cũng ươn ướt – không ngoại lệ.  “Vâng, đúng vậy, ôi, mùi hương của chúng mới tuyệt làm sao. Đây là hoa màu kem. Đây thì màu hồng. Còn đây thì màu trắng…” Mụ ta cứ thế mà huyên thuyên không ngừng. Một đặc điểm kỳ lạ khác ở bọn hay nói dối là chúng không tài nào im lặng được dù chỉ trong một chốc.

Tôi cố hỏi một cách thận trọng, như thể là đang chạm vào vết thương lòng của người ta: “Có phải là những khu đất quanh đây đều của cô không?”.

Mụ ta liền đáp với giọng khá chói tai: “Vâng, thưa ngài. Vâng, đúng vậy.” rồi gật đầu liên tục, hai rồi ba lần.

“Ồ thế tức là cô sắp xây một căn nhà mới à. Bao giờ thế?”.

“Họ sẽ khởi công nay mai rồi, thưa ông. Nghe đâu còn là một căn thật to nữa. Ha, ha, ha.”, mụ ta cười váng lên như đàn ông.

“Ồ, không phải nhà cô ư? Cô bán mảnh đất đó cho người khác à?”

“Vâng đúng vậy. Chúng tôi bán mảnh đất đó đi rồi.”

“Thế một tsubo đất ở đây giá bao nhiêu vậy? Tôi không nghĩ là nó rẻ đâu.”  

“Ồ, một tsubo, ừm, tận hai  mươi hay ba mươi yên đấy, tôi đoán vậy. Hê, hê.” Dù mụ ta bật cười khúc khích đi nữa thì cũng không ngăn được mồ hôi rịn ra trên trán. Mụ ta đang cố hết sức rồi.

Tôi bỏ cuộc. Tôi quyết định không trêu mụ thêm nữa. Tôi cũng nào khác chi, từng cố nói ra những lời dối trá rõ như ban ngày mà vẫn cố bám víu thật chặt vào chúng dù biết rõ rằng ai cũng nhìn thấu được mình. Và tôi cũng nhớ rõ những giọt nước mắt nóng hổi và lạ lùng đã dâng lên trong khóe mắt mình khi tôi làm thế.

“Được rồi. Nếu được thì cô trồng chúng giúp tôi nhé. Cô muốn bao nhiêu tiền?”

“Tiền ư? Ôi trời ơi, tôi không phải đến đây để bán chúng cho ngài đâu. Chỉ là, chúng tôi thấy tội cho những bông hồng này mà thôi.”, mụ đáp, cả khuôn mặt bừng sáng với nụ cười. Rồi mụ ta vươn người về phía tôi và hạ giọng, “Vậy là năm mươi sen một khóm nhé.”

Tôi gọi vợ mình, người đang khâu vá ở phòng bên, “Trả tiền cho người này nhé em. Anh mới mua hoa hồng.”

Người “nữ nông dân” giả, trồng những khóm hoa hồng cho chúng tôi, rồi cảm tạ một cách chân thành, sau đó ra về. Tôi đứng trên hành lang, ngây ra nhìn tám cây hoa.

“Người phụ nữ đó là đồ lừa đảo.”, tôi nói với vợ mình. Tôi có thể cảm thấy mặt mình đang đỏ bừng lên. Mặt tôi nóng ran đến tận hai tai.

Vợ tôi bình tĩnh đáp, “Em biết ngay từ đầu rồi. Em đang định ra ngoài và từ chối mụ ấy, nhưng anh đã bước ra hành lang và bảo mụ ta cho mình xem. Em không tính đóng vai mụ phù thủy khi anh là chàng bạch mã hoàng tử đâu. Nhưng mà em ghét mất tiền oan. Tận bốn yên, thật quá thể. Mình bị cướp tiền rồi. Là lừa đảo đấy anh. Em thật buồn nôn.”

“Ồ, ừ. Ít ra thì mình còn có mấy cây hoa hồng.”

Chúng tôi còn có mấy cây hoa hồng. Dù đây chỉ là một điều hiển nhiên thôi, nhưng nó vẫn mang đến cho tôi dũng khí phi thường. Bốn năm ngày sau đó, tôi dành hết thời gian của mình cho những cây hoa. Tôi lấy nước vo gạo còn thừa tưới cho chúng. Tôi dựng những cọc tre để chống cho chúng khỏi ngả nghiêng. Tôi cẩn thận ngắt bỏ từng chiếc lá héo úa. Tôi tỉa cành. Tôi diệt sạch những con bọ bé tí màu xanh trông như loài bọ nhảy. Đừng chết nhé. Đừng chết. Hãy cắm rễ thật sâu, tôi đã cầu nguyện như thế với nỗi lo âu run rẩy trong lồng ngực. Và, quả thực, bằng cách nào đó, những cây hoa đã sống sót.

Sáng, trưa và chiều, tôi đứng trên hành lang, ngắm nhìn những khu đất phía bên kia hàng rào, với niềm hi vọng ngày một leo lắt dần. Tôi sẽ hạnh phúc biết bao nếu người phụ nữ đó thật ra không phải là kẻ lừa gạt, và sẽ xuất hiện bất ngờ trên những cánh đồng. “Hãy tha thứ cho tôi, tôi đã tin rằng cô là một kẻ lừa đảo. Không tin tưởng người khác là một điều thật tồi tệ, phải không?”. Và như thế, với một niềm vui to lớn trong lòng, tôi sẽ xin lỗi, và thậm chí là tôi còn có thể rơi nước mắt với lòng biết ơn Thượng Đế vô hạn. Mặc kệ những bông hoa tu líp hay thược dược đi. Tôi chẳng cần những gì như thế. Tất cả những điều mà tôi mong muốn là được nhìn thấy cô đột nhiên xuất hiện trên cánh đồng, lao động cần mẫn. Đó sẽ là sự cứu rỗi cho tôi. Hãy xuất hiện đi mà, cho tôi thấy mặt. Tôi đã đứng thật lâu trên hành lang, lướt mắt nhìn khắp cánh đồng bên kia bờ giậu, nhưng tất cả những gì mà tôi thấy chỉ là lá khoai tây đúng đưa trong gió thu, và thỉnh thoảng, ông chủ đất già thong thả tản bộ, chắp tay sau lưng, kiểm tra mọi việc.

Tôi đã bị lừa. Chẳng còn ngờ vực gì nữa. Tôi phải dồn hết niềm tin và hi vọng của mình vào những bông hoa mà những cái cây khẳng khiu, gầy gò này sẽ nở. Kết quả của sự khuất phục. Một nửa trong tôi đã chấp nhận cái khả năng rằng chúng sẽ không nở nhiều hoa. Tuy vậy, hoảng mười hôm sau, một người bạn của tôi, một họa sĩ làng nhàng theo trường phái hội họa kiểu Tây phương, đã đi bộ đến nhà tôi ở Mitaka, và cho tôi biết một thông tin mà tôi không tài nào ngờ đến.

Nhưng tôi nói hơi sớm rồi nhỉ. Vào lúc mà những chuyện này xảy ra, thì đồng thời, tôi cũng nhận được một lời mời từ văn phòng ở Tokyo của một tờ báo nổi tiếng của Tỉnh Aomori, vùng đất nơi tôi sinh ra.

“Chúng tôi tin rằng lá thư này sẽ được chuyển đến tận tay ông. Mùa thu đã đến trên xứ sở Tsugaru, và cả những cánh đồng lúa vàng ươm cùng những vườn táo đỏ tươi sai trĩu cũng sắp cho vụ mùa bội thu trong bốn năm liên tiếp. Chính nhằm thể hiện tấm lòng biết ơn đến sự may mắn trời ban này, chúng tôi đã quyết định tài trợ một buổi họp mặt những người con của vùng đất Aomori đang hoạt động văn nghệ thuật ở Tokyo này. Chúng tôi chân thành mong ông có thể dành ra chút thời gian từ lịch làm việc bận bịu của mình để tham dự cùng chúng tôi vào buổi chiều hôm đó, cùng trao đổi về những ấn tượng đối với Tokyo và hồi ức quê nhà…” Và còn nhiều thứ khác nữa. Lời mời với những ngôn từ lịch thiệp này được in trên một mặt của tấm bưu thiếp trả trước, cùng với ngày giờ diễn ra buổi họp mặt. Tôi viết “Sẽ tham dự.” lên rồi gửi lại cho họ.

Tại sao một kẻ như tôi, kẻ đã từ lâu xem quê hương mình là một nơi kinh khủng, lại nhận lời? Có tất cả là ba nguyên nhân.

Thứ nhất đó là, sự thực thì, từ lúc còn bé, tôi đã luôn sợ hãi những lúc họp mặt đông người. Và thật không may, đó chính là thiếu sót to lớn trong tính cách của tôi. Nỗi sợ này không hề giảm đi theo năm tháng, mà theo thời gian, khi tôi ngày một lớn lên và già đi thì nó ngày một trầm trọng, thậm chí tới mức tôi viện cớ để tránh tham gia cả những cuộc họp mặt mà tôi nhất định phải hiện diện. Kết quả là tôi bị xem như kẻ không nghiêm túc thực hiện bổn phận của mình với người khác và thậm chí còn mang tiếng là kẻ hợm mình, tự đắc. Vì thế mà gần đây, tôi đã quyết định là từ rày về sau, tôi sẽ nỗ lực hết mình hoàn thành nghĩa vụ của một công dân bằng cách có mặt trước mọi người khi bị yêu cầu và thể hiện cảm nghĩ của mình rõ ràng và chân thành nhất có thể.

Nguyên nhân thứ hai là tôi mắc nợ một người đàn ông tên Kawauchi. Đó là vị tổng biên tập của tòa soạn gửi thiệp mời cho tôi, và tôi đã từng khiến ông ấy phải lo lắng cho mình rất nhiều vào lần tôi bị bệnh lúc năm năm trước. Ngài Kawauchi là một người quen của tôi từ hồi tôi còn học trung học và đã luôn lén lút giúp đỡ và ủng hộ những tác phẩm của tôi dù chúng bị vùi dập tả tơi dưới bàn tay của những nhà phê bình. Sau khi tôi ngã bệnh, tôi mượn tiền từ tất cả mọi người, mượn như điên, và tuy tôi có cố gắng trả dần từng chút một cho họ từ dạo ấy, tôi vẫn chưa trả dứt cho họ. Chính trong khoảng thời gian đó, tôi gần như loạn trí, và đã gửi một lá thư cho ngài Kawauchi, đương nhiên cũng là hỏi vay tiền. Ông ấy ngay lập tức gửi thư đáp lời tôi, và hóa ra, đó là một lời từ chối thẳng thừng, nhưng nhờ đó mà tôi dù sao cũng vô cùng cảm kích. Dù tôi chỉ là một người “cạo giấy” nghèo nàn, người đàn ông tốt bụng này đã chịu khó giải thích tình cảnh của mình một cách rõ ràng và chân thật, và cho tôi biết rằng ông ấy không muốn dông dài và do dự khi chắc chắn rằng ông ấy không thể giúp tôi, và vì thế, ông ấy đã quyết định từ chối tôi mà không vờ đưa ra những lời hứa hẹn hay điều kiện. Đằng sau những câu chữ ấy, tôi cảm thấy được lòng tự trọng mạnh mẽ của người đàn ông, mà ngay cả tôi, kẻ đang bị đày đọa trong nỗi khổ lụy của chính mình, cũng có thể cảm kích được. Tôi vẫn chưa quên cảm giác ấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, lời mời này đến từ ngài Kawauchi. Nếu tôi viện cớ và không đi, ông ấy có thể cho rằng tôi từ chối vì ông ấy đã không cho tôi vay tiền khi đó. Ừ thì, không đâu, chắc chắn ông ấy không nghĩ vậy đâu, nhưng rất có thể, ông ấy sẽ cảm thấy nghi ngờ, dù chỉ là một tia ngờ vực nhỏ nhất thôi thì cũng khiến cho tôi cảm thấy đau đớn vạn lần hơn cả cái chết. Tôi tuyệt nhiên không ôm hận hay căm ghét gì ông ấy. Sự thực là tôi vẫn còn mang ơn ông ấy nhờ lá thư đó. Và cũng vì nguyên nhân này, tôi, bằng bất cứ giá nào, phải tham dự buổi họp mặt.

Nguyên nhân thứ ba nằm ở chính lời mời. “Những cánh đồng lúa vàng ươm cùng những vườn táo đỏ tươi sai trĩu…”. Tôi cũng là một người con của vùng đất Tsugaru. Đọc lên những từ này, tôi như thấy hiện ra trước mắt mình cảnh đồi núi chập chùng và những con sông quê cuộn chảy. Hơn mười năm qua, tôi chỉ về quê đúng một lần. Vào mùa đông tám năm trước… Ôi, đó cũng là một khoảng thời gian đầy đau khổ. Tôi bị triệu tập bởi Văn phòng Công tố Aomori, và một mình tôi đón tàu tốc hành từ Ga Ueno đi Aomori. Tôi nghỉ lại qua đêm gần suối nước nóng Asamushi, và tảng sáng, dưới những cụm mây đen như mực đè nặng xuống mặt đất, tôi lặng lẽ ngắm nhìn đám tuyết trắng bị thổi bay ra mặt biển xám xịt với những cơn sóng cuồn cuộn xô bờ rồi vỡ tan ra thành những mảnh pha lê lấp lóa. Ôi, tôi nghĩ, đừng bao giờ trở lại nơi này! Tôi đã quyết chí để không gì có thể kéo tôi về đây nữa.  Tôi đến Aomori và trình diện ở văn phòng công tố. Ở đó, tôi đã bị tra hỏi rất nhiều. Đến khoảng nửa đêm, tôi cuối cùng cũng được thả ra, và khi tôi bước ra từ cửa sau của tòa án, gió tuyết lạnh lẽo quật vào má tôi như hàng vạn mũi tên, thốc tung vạt áo choàng của tôi để cái rét như kim châm luồn vào da thịt. Đứng giữa con phố giá băng vắng lặng ngay trên mảnh đất quê nhà, cảm giác cô đơn đến tận xương tủy của kẻ độc hành hay của cô bé bán diêm trong truyện cổ tích thấm sâu vào tâm hồn tôi, để rồi bùng lên thành ngọn lửa phẫn nộ, tôi tự hỏi – Ra đây là nhà của mình ư? Đây chính là quê hương yêu dấu của mình đấy ư? Dưới những con phố không một bóng người và u tối ấy chỉ có tiếng gió gào thét vọng lại, tôi khom vai vội vã lao vào màn tuyết trắng trắng xóa, và tìm đường trở về Ga Aomori. Tôi chỉ dừng chân để ăn một bát mì Trung Hoa ở quầy hàng trước ga, rồi lại vội vã lên tàu về Ueno mà chẳng buồn gặp một ai nơi quê cũ. Trong suốt mười năm ròng, tôi chỉ nhìn thoáng qua quê hương mình như thế đó. Giờ đây, tâm hồn tôi đã trở nên tê dại sau bao năm đau đớn giày vò, tôi hoàn toàn quên mất nỗi căm ghét của mình với nơi đó khi tôi đọc những từ ngữ phỉnh phờ về những cánh đồng vàng ươm và những quả táo đỏ. Và tôi chệnh choạng viết mấy từ: “Sẽ tham dự.”

Mỗi ngày trôi qua, sau khi tôi gửi lời phúc đáp của mình, tim tôi ngày một bị thắt chặt bởi nỗi lo lắng, bồn chồn gây ra bởi quan niệm về “thành công vật chất”. Việc tôi được tờ báo này mời cũng giống như một anh chàng địa phương thành công trở thành một nghệ sĩ – chẳng phải là nó cũng hơi hơi giống như một đứa con hoang toàng được dịp áo gấm về làng sao? Khá vinh dự đấy chứ, thật đấy. Điều đó có nghĩa là, tôi đã trở thành một người lỗi lạc rồi, phải không? Mỗi khi hững ý nghĩ như thế hiện ra trong đầu tôi, tôi lại không thể ngăn mình trở nên bối rối, bất an và xao động. Chắc chắn rồi, tôi, một kẻ mà tiếng xấu đã trở thành “huyền thoại”, đã bị biến thành đối tượng của một trò chơi khăm hèn hạ – họ cố tình ở trước mặt thì nâng tôi lên thành nhân vật nổi danh, xuất chúng, để rồi sau lưng tôi, họ có thể thè lưỡi ra, thúc khủy tay của nhau, nháy mắt ra hiệu và cười khẩy tôi đầy khinh miệt. Tin chắc rằng đây chính là những gì sẽ xảy ra, tôi tuyệt nhiên không thể bình tĩnh được nữa. Chẳng có một ai ở quê đọc sách của tôi. Hoặc là, dù họ có đọc đi chăng nữa, chắc chắn rằng họ chỉ đơn thuần là nhếch miệng cười và cảm thấy thương hại cho cái bản chất xấu xa, đê tiện của nhân vật chính, kể lại những điểm xấu của y cho người khác nghe, lắc đầu ngao ngán, và chế nhạo, khinh bỉ tôi vì đã đem lại nỗi ô nhục cho quê hương mình.

Một lần nọ, vào bốn năm về trước, tôi tình cờ chạm mặt anh trai cả của mình ở Tokyo, anh ấy bảo tôi đừng gửi sách cho họ hàng nữa. Anh ấy bảo, “Ngay cả anh cũng chẳng muốn đọc. Khi mà họ hàng mình đọc những gì em viết, em biết là họ… như thế nào không?”. Anh ấy không nói hết lời, nhưng cúi đầu, như thể những từ ngữ ấy đã mắc kẹt trong cổ họng, không thốt lên được, nhưng như thế cũng đã đủ cho tôi hiểu rõ hết mọi chuyện rồi. Tôi còn sống ngày nào thì tuyệt không có ý định gửi bất kỳ quyển sách nào của mình về quê nữa. Ngay cả những nhân vật nổi danh trên văn đàn ở quê, chỉ trừ mỗi Kono Kaichi, cũng xem tôi là thằng hề ngu ngốc. Và những nghệ sĩ khác, không hoạt động văn chương, như những họa sĩ và các nhà điêu khắc chẳng hạn, chắc chắn là họ cũng rất sẵn lòng tin vào những lời lên án và lăng mạ tác phẩm của tôi để rồi mỉm cười với với vẻ trịch thượng và thương hại. Không, tôi không hề mắc chứng phức cảm bị hành hạ. Mà đây cũng không đơn giản chỉ là lối nhìn đời bi quan, yếm thế của tôi. Sự thật có khi còn tệ hơn những gì tôi đang viết ra bây giờ nữa. Và đó chỉ là những “đồng chí” của tôi trong giới văn nghệ thôi. Còn những người khác ở dưới quê nữa, bạn nghĩ xem, tiếng xấu của tôi còn tệ đến mức nào đây? Ngồi quanh lò sưởi, họ rỉ tai nhau “À, tôi nghe nói là cậu út nhà Tsushima đã trở thành một nỗi ô nhục ở dưới Tokyo đấy.”. Ở một mức độ nào đó thì tôi chỉ tưởng tượng được tới vậy; rồi họ cời than, đun sôi ấm trà, và chuyển chủ đề sang lễ hội mùa thu sắp đến hay gì đó.

Trong lúc đó, chẳng hề hay biết gì về tình cảnh thảm hại này, anh nhà văn ngu ngốc và nghèo túng này, nhận được thiệp mời từ một tòa soạn ở quê mình và nhận lời ngay tắp lự, khúc khích cười khoái chí, và nghĩ, à, à, xem ra mình cũng thành công ra phết chứ nhỉ. Đáng thương tới mức nào, bạn có thể hiểu mà đúng không? Thành công? Áo gấm về làng? Giống con lừa khoác tấm da sư tử thì có. Một trò cười đúng nghĩa. Khi tôi nhận ra điều này, tôi phát điên lên vì nhục nhã. Tôi đã làm gì cơ chứ? Lẽ ra tôi phải nói là tôi không tham dự được. Hoặc là, không, vấn đề không phải là sẽ đi hay không – mỗi việc tôi hồi âm đã biến tôi không khác một ả gái điếm hèn hạ rồi. Phải giả vờ như không biết chuyện có thiệp mời và trốn trong một góc xấu hổ, thu mình lại run rẩy, mới đúng là những gì mà một kẻ như tôi nên làm.

Tôi vô cùng căm ghét sự nhu nhược và cẩu thả đã khiến mình tự dưng nhận lời. Giờ thì đã quá muộn. Giờ đây, bởi chính sự ngu xuẩn của mình, mà tôi, không còn lựa chọn nào khác, phải cố vực dậy lòng can đảm của mình, vận bộ hakama đẹp nhất mà tôi có, và xuất hiện ở buổi họp mặt trong tư thế ngẩng cao đầu. Để bọn họ cười đi, để bọn họ làm hết những trò tồi tệ và xấu xa nhất, tôi vẫn sẽ trơ ra đấy, diễn lấy cái vai của một nhà văn tài ba lỗi lạc, thậm chí có lẽ là tôi còn đọc một bài diễn văn thật dài nữa chứ, và như là sự liều lĩnh trong cơn tuyệt vọng, ngọn lửa đấu tranh bùng cháy trong tôi. Sức mạnh là thứ quyết định ở trên đời, tôi tự nhủ; nếu một người vẫn luôn kiên trì, bền bỉ xăm xăm tiến về phía trước dù gặp phải bao khó khăn, nhọc nhằn, thì sẽ không còn ai dám cười nhạo anh ta nữa. Ôi, thiển cận nhất chính là sự trơ trẽn! Đột nhiên, sáu biến thành chín, một kẻ từng bị sỉ vả, mắng nhiếc không tiếc lời, nay trở thành đối tượng của những lời ngợi ca và tôn vinh giả tạo, người ta bắt đầu xun xoe bợ đỡ y và lén la lén lút tỏ lòng kính trọng. Nhưng, dù tôi cố kích động chính mình, tự nhủ với bản thân rằng mình sẽ hiên ngang bước vào đó trong bộ hakama và phát biểu một bài diễn văn, tôi thừa biết rằng tất cả những điều này là không thể. Tôi đã gây ra nhiều khổ đau cho mọi người. Tôi chẳng viết được cái gì ra hồn cả. Toàn khoe khoang, khoác lác mà thôi. Bất lương. Hèn nhát. Dối trá. Phóng đãng. Nhút nhát. Tôi chẳng cần chờ đến khi Thượng Đế trừng phạt mình, tôi đã luôn phun ra những lời biện hộ nửa vời ngu ngốc.

Hãy để tôi thú nhận sự thật này. Tôi muốn được nhìn thấy bản thân mình mặc bộ hakama. Tôi đã trở nên hưng phấn và kích động, tim tôi đập thình thịch khi tưởng tượng ra chính mình đang diễn thuyết một cách hùng hồn, khiến cho người nghe vô cùng chấn động, và rồi đột nhiên, tôi tỉnh mộng và nhận ra mình chả là gì hết, một kẻ vô dụng, tôi bỗng ước mình có thể chui luôn vào một cái lỗ rồi biến mất, nhưng sau đó, một lần nữa, ngực tôi lại căng lên và tôi không tài nào dứt bỏ lòng quyến luyến thế gian này, tôi đã nghĩ – ừ thì, ít ra hãy để tôi được mặc hakama ra phố. Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ mặc một bộ hakama thật chỉnh tề. Tốt nhất là tôi đừng nên cười nhiều, vì tôi trông vô cùng xấu xí với những cái răng sún, tôi sẽ mím môi và ngậm miệng thật chặt, và khi tôi mở miệng nói chuyện thì tôi sẽ nói thật rõ ràng, xin lỗi vì đã không giữ liên lạc với mọi người suốt một khoảng thời gian dài. Nếu tôi làm như vậy, biết đâu, có lẽ, những người ở quê tôi sẽ nghĩ rằng, tại sao thế, cậu út nhà Tsushima cũng là một người đàn ông đứng đắn và đàng hoàng ấy chứ, chẳng giống chút nào với những lời đồn thổi mà mình nghe. Tôi sẽ đi. Tôi sẽ khoác lên mình bộ hakama và đến dự. Tôi sẽ chào hỏi mọi người một cách rõ ràng và sôi nổi, rồi ngồi vào chỗ của mình ở hàng ghế cuối cùng, cư xử thật khiêm tốn và có chừng mực, và người ta sẽ thấy tôi là một anh chàng tuyệt vời, và họ sẽ truyền tai nhau, người này qua người kia, và những lời khen đó sẽ dần dần lan khắp quê tôi, cách đó 500 dặm, và mang lại một nụ cười dịu dàng trên đôi môi người mẹ đang đau ốm của tôi. Đây chính là cơ hội ngàn năm khó gặp trong đời. Tôi sẽ đi, tôi sẽ mặc bộ hakama và đi, tôi tự nhủ với chính mình, ngực tôi căng lên vì phấn khích. Tôi chỉ không thể nào từ bỏ quê hương mình. Dù tôi bị khinh rẻ, căm ghét đến mức nào đi nữa, tôi cũng không đành lòng quay lưng lại với quê hương. Nỗi khát khao âm ỉ cháy trong tim tôi suốt bốn năm từ khi tôi khỏi bệnh giờ đã bừng lên thành một ngọn lửa mãnh liệt. Sâu thẳm trong linh hồn tôi vẫn luôn ấp ủ một giấc mơ về sự trở lại huy hoàng của đứa con hoang toàng. Tôi yêu quê mình. Tôi yêu tất cả những con người ở quê!

Ngày hẹn đã đến. Trời mưa như trút nước từ sáng sớm, nhưng điều đó chẳng thể khiến tôi dùng dằng hay do dự. Tôi có một bộ hakama. Đó là một bộ hakama khá đẹp nữa. Bằng lụa. Tôi chỉ mặc nó đúng một lần, vào lễ cưới của mình, rồi sau đó vợ tôi gói nó lại bằng giấy dầu thật kỹ lưỡng rồi cất vào dưới cùng của chiếc rương hành lý. Vợ tôi cho đó là một bộ hakama trang trọng. Cô ấy tự mình nghĩ như thế. Tôi đã mặc nó vào ngày cưới, nên đương nhiên nó phải là bộ hakama trang trọng rồi. Tuy nhiên, lúc đó tôi rất túng quẫn, và chẳng thể nào mua một bộ hakama trang trọng đúng chuẩn được, tôi đành mua một bộ bằng lụa bình thường. Tuy vậy, tôi cảm thấy thật tội nghiệp cho vợ mình nếu phá đi ảo tưởng đó nên tôi không bao giờ cho cô ấy biết sự thật. Dù thế nào đi nữa, đó vẫn là bộ đồ mà tôi muốn mặc khi đến dự buổi họp mặt. Là chiếc “áo gấm” của tôi.

“Em à, lấy bộ hakama đẹp ra cho anh nhé!” Tôi không thể ép mình nói là “trang trọng” được.

Bộ hakama trang trọng hả anh? Ôi, anh không được mặc bộ đó. Ai mà mặc bộ kimono trang trọng có họa tiết chấm nước đâu anh. Kỳ cục lắm!” Tôi chỉ có một thứ duy nhất để mặc vào những dịp đặc biệt – một bộ kimono không áo lót với họa tiết chấm nước. Hồi trước tôi cũng có chiếc áo choàng haori để khoác mùa hè, nhưng bị mất hồi nào không biết.

“Không kỳ đâu em. Lấy ra đi.” Tôi đã tính kể sự thật cho cô ấy nghe, nhưng kìm lại.

“Trông buồn cười lắm anh.”

“Anh không quan tâm. Anh muốn mặc.”

“Không thật đó, anh không được mặc bộ đó.”  Cô ấy vẫn khư khư giữ lấy ý kiến của mình. Có một chút gì đó vị kỷ ở đây. Cô ấy sẽ không để cho bộ hakama tôi mặc vào ngày cưới của chúng tôi bị vấy bẩn. “Anh có một bộ bằng vải xéc rất tuyệt mà.”

“Quên nó đi. Anh mà mặc nó vào thì trông như người kể chuyện trong một bộ phim câm ấy. Nó cũng bẩn rồi. Không mặc được đâu.”  

“Hồi sáng em ủi lại cho anh rồi. Nó hợp với bộ kimono của anh hơn.”

Vợ tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại cương quyết như thế. Tôi tính giải thích nhưng thấy phiền quá nên thôi. “Bộ hakama trang trọng.”, tôi nói, cuối cùng cũng tìm ra được lời nói dối phù hợp, “Bộ hakama trang trọng trông sẽ hợp hơn. Mưa như thế thì bộ vải xéc sẽ thành ra nhàu nhĩ ngay luôn ấy chứ.”

“Mặc bộ vải xéc đi anh.”, vợ tôi bắt đầu xuống giọng nài nỉ. “Anh hãy bọc nó lại và mang theo để nó khỏi bị ướt. Chừng nào anh tới nơi thì hãy mặc vào.”

“Được thôi.” Tôi chịu thua.

Tôi để cô ấy bọc lại bộ hakama vải xéc và một đôi vớ tabi trắng trong tấm khăn, rồi xắn gấu bộ kimono của mình lên, và bước ra giữa trời mưa với cây dù cùng linh cảm mơ hồ về một điềm gở đang treo lơ lửng

Buổi họp mặt được tổ chức ở một nhà hàng phương Tây nổi tiếng giữa Công viên Hibiya. Theo lịch hẹn, buổi họp mặt sẽ diễn ra vào lúc năm giờ ba mươi, nhưng tôi, người luôn xui xẻo và thường gặp rắc rối với các tuyến xe buýt, phải hơn sáu giờ mới đến được nơi. Tôi thì thầm vài lời vào tai cậu phát dép lê cho khách đi trong nhà, và cậu ấy chỉ tôi đi qua một căn phòng nhỏ gần lối vào để thay quần áo. Trong phòng, một cậu bé chừng mười tuổi với gương mặt tái nhợt, mặc một bộ com lê đắt tiền, ngồi ủ ê trên sàn nhà, miệng nhồm nhoàm nhai bánh kẹo, trong khi một gia sư đang giảng bài số học cho cậu ta. Chắc cậu nhóc này là con trai cưng của người chủ nhà hàng. Người gia sư là một phụ nữ đẫy đà và có tư thái trang nghiêm đĩnh đạc,  khoảng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, với nước da trắng trẻo và đeo một cặp kính gọng tròn. Tôi buộc lại bộ kimono của mình, gồi mở gói đồ ra, mang đôi tất trắng vào, và lúc tôi mải loay hoay với bộ hakama vải xéc của mình, người gia sư, chắc chắn là thấy động lòng trước tình cảnh tội nghiệp này, lặng lẽ đứng lên, bước lại gần tôi và giúp tôi mặc bộ đồ vào. Cô ấy buộc dải khăn thành một cái nơ gọn gàng. Tôi cảm ơn cô ấy và vội vã chạy ra khỏi phòng, rồi cố tình từ từ đi chậm lại lên cầu thang, dừng lại ngay giữa đường để tháo chiếc nơ mà cô ấy đã cố gắng buộc ra. Tôi sẽ không đi loanh quanh với dải khăn vừa bẩn vừa nhăn lại được thắt thành một chiếc nơ xinh đẹp.

Ngay khi tôi đặt chân vào phòng tiếp tân, tôi đông cứng người lại vì căng thẳng. Giờ phút này chính là cơ hội của tôi. Thời khắc để tôi giành lại danh dự của mình, vốn đã bị ô uế ở quê nhà suốt mười năm nay, cuối cùng đã đến. Một hình tượng xuất chúng, tôi tự nhủ, đi đứng và cư xử như một người tài ba, xuất chúng. Ai đó đã vỗ nhẹ lên vai tôi. Tôi quay lại, thì ra đó là Kono Kaichi. Quên luôn cả những chiếc răng sún, tôi cười với anh ấy thật tươi. Kono Kaichi đã làm bạn với tôi mười năm nay, và chẳng phải do chúng tôi là đồng hương mà chúng tôi kết giao với nhau. Tôi tìm đến tình bạn này bởi vì anh ấy là một nghệ sĩ với trái tim trong sáng, chân thành và trung thực. Kono Kaichi cười toe toét lại với tôi, và tôi còn ngoác miệng cười lớn hơn nữa. Những lời thề thốt, tuyên bố về việc phải cư xử thật nhũn nhặn và kiềm chế đã bay vụt khỏi đầu tôi. Tất cả mọi người đều ngồi xuống. Tôi thành ra phải ngồi ghế cuối cùng, thật luôn. Trong lúc bối rối và vội vàng, gật đầu chào hết người này đến người khác, tôi thành ra phải ngồi chỗ cuối cùng. Ừ thì, có lẽ, nó cũng là một lựa chọn phần nào có ý thức. Đối với tôi, lựa chọn này được đưa ra không phải vì lòng tôn trọng những người khác ở buổi họp mặt, mà chính là sự chống đối, nổi loạn. Thậm chí, tôi ngờ rằng, sự nổi loạn ấy còn đi kèm với lòng kiêu ngạo và khinh khi nữa, nhưng tôi không chắc lắm .Dù gì đi nữa thì tôi vẫn ngồi cuối cùng, và tôi hết sức thoải mái với chỗ ngồi này. Vậy là tốt rồi, tôi nghĩ thầm, khá là hài lòng với cách mà mọi thứ đang diễn ra. Giờ là lúc giành lại tên tuổi và danh dự của mình thôi.

Tuy nhiên, điều tốt đẹp đó đã không xảy đến. Tôi đã xử sự một cách đáng khinh. Một thảm họa không hơn không kém.

Ôi, tôi đúng là một kẻ hết thuốc chữa thật rồi. Chẳng còn gì đáng giá ở tôi nữa. Đối với quê hương mình, tôi chỉ là một đứa con hư hỏng. Khi trở lại không khí quê nhà, tôi trở nên yếu ớt hẳn đi, thói ích kỷ của tôi đã lấn át con người tôi, và tôi hoàn toàn không thể kiềm chế hay kiểm soát nổi bản thân mình. Tôi trở nên vô dụng tới mức chính mình còn thấy lạ. Ý chí và lòng quyết tâm của tôi như bị gió cuốn sạch trơn, và tôi không thể kiềm chế bản thân mình được. Tim tôi đập thình thịch vì hoảng sợ, các khớp xương lỏng lẻo hẳn đi, khiến tôi không tài nào lên mặt hay làm ra vẻ được. Dù đủ loại món ngon vật lạ lần lượt được dọn ra, tôi, vì quá xúc động, nên cũng chẳng thể nào nếm thử. Tôi chỉ biết uống và uống. Nốc rượu sake như điên. Vì trời mưa, người ta đóng hết các cửa sổ khiến bầu không khí trong phòng trở nên nóng nực và bức bối, và khi men rượu đã ngấm vào người, tôi bắt đầu thở hồng hộc, và mặt thì đỏ gay lên như tôm luộc. Không ổn rồi. Cứ thế này thì tôi càng tai tiếng hơn nữa, danh dự của tôi ở quê sẽ chỉ chìm sâu thêm xuống vũng bùn nhơ. Lòng tôi buồn vô hạn khi mường tượng ra vẻ đau đớn, tức giận và nhục nhã hiện lên trên gương mặt người mẹ và người anh cả của mình nếu họ trông thấy tình cảnh tôi lúc này, nhưng tôi đã đánh mất khả năng tự kiềm chế rồi. Tôi chỉ uống, uống và cứ thế uống. Tôi đã trở nên cực kỳ ấu trĩ.

Ba mươi mốt tuổi đầu, chẳng còn nét thu hút nào của thời trai trẻ, thế mà tôi lại ngồi đây, đóng vai một đứa trẻ con – thật là một cảnh tượng ghê tởm đến tột cùng. Càng say, tôi lại càng trở nên thảm hại, tự vỗ về bản thân rằng mình chẳng hề muốn tham gia buổi gặp mặt này chút nào, rồi ấp ủ những mưu đồ đầy tự mãn để khoe rằng mình là một kẻ dị biệt. Nhưng tôi lại nghĩ, không, không, họ đều là những người đáng kính, đầy xuất sắc trong lĩnh vực của mình, là những người nghệ sĩ thật thà, khiêm tốn và nhân hậu, dù gặp phải khó khăn, thử thách và bất hạnh. Kẻ hèn nhát duy nhất ở đây là chính tôi. Ôi, mi thật là một gã hèn hạ, tôi tự bảo mình, chẳng khác gì một mụ già tiều tụy, hao mòn! Nếu mi ghét cay ghét đắng cái việc tham gia một buổi họp mặt như thế, sao mi lại vận một bộ hakama và tới đây? Ai cũng có thể nhìn thấu cái vẻ cáu kỉnh đầy hẹn hạ của mi.

Dù sao đi nữa, tôi cũng thật thảm hại, lúng ta lúng túng ở chỗ ngồi của mình, chẳng thể nào thư giãn thoải mái, không ngừng lắc qua lắc lại và uống hết cốc rượu này đến cốc rượu khác. Tôi hoàn toàn đắm chìm vào hơi men, và khi men rượu lan tỏa khắp mạch máu trong người tôi, cả người tôi nóng bừng lên đến nỗi đỉnh đầu tôi như bốc khói được.

Màn tự giới thiệu bắt đầu. Họ đều là những người nổi tiếng. Họa sĩ phong cách Nhật Bản, họa sĩ theo trường phái phương Tây, nhà điêu khắc, kịch tác gia, vũ công, nhà phê bình nghệ thuật, ca sĩ nổi tiếng, nhạc sĩ sáng tác, người vẽ tranh hoạt họa, tất cả với tài năng và phẩm giá của mình, đều là những người xuất sắc nhất, họ giới thiệu tên mình một cách nhã nhặn và thêm vào đó lời nói đùa nhẹ nhàng. Làm ra vẻ bạo dạn một cách ầm ĩ, tôi vỗ tay thật to vào những lúc không thích hợp và cứ hét lên “Nghe rồi! Nghe rồi!”, dù rằng tôi có nghe gì đâu, và khiến cho tất cả mọi người ở đó sửng sốt và nửa kinh ngạc, nửa ghê tởm khi họ tự hỏi rằng cái gã say xỉn ngồi góc trong cùng là ai. Tôi hoàn toàn biết rõ điều này, nhưng không thể “phanh” chính mình lại nữa.

Hết người này rồi lại đến người kia lên giới thiệu về bản thân mình, theo thứ tự chỗ ngồi, chạy hết khắp phòng và dần dần đến chỗ tôi. Cứ xem tình hình tôi hiện giờ đi, tôi sẽ nói cái quái gì khi tới lượt mình đây? Đầu óc tôi quá rối rắm để nghĩ ra một bài phát biểu dài. Người ta sẽ xem đó là những lời ba hoa vô nghĩa của tên say xỉn hết thuốc chữa và tôi sẽ càng bị khinh miệt và căm ghét hơn nữa. Rồi, đột nhiên, hiện lên trước mắt tôi là một dòng sông nhỏ mùa xuân, được mớm nước từ những cụm tuyết tan. Rau cần xanh mơn mởn mọc ở hai bên bờ sông. À! Tôi biết mình có thể nói gì rồi. Tôi sẽ nói được nhiều điều lắm. Chỉ là, đột nhiên tôi chẳng muốn nói mà thôi. Tôi chỉ đơn thuần là không muốn. Dẹp hết đi. Tôi chẳng còn để tâm rằng quê hương mình chưa từng hiểu được mình dù chỉ là một chút. Tôi chịu thua rồi. Quên cả chuyện “áo gấm về làng” đi.

Dù men rượu khiến đầu óc tôi rối loạn, tôi vẫn cố xoay xở tìm ý tưởng. Rồi tôi quyết định là chỉ cảm ơn tòa soạn về bữa tiệc, rồi quay đi ra ngoài. Điều thật lòng và chân thành duy nhất, không lên gân giả tạo, mà tôi có thể làm là thể hiện lòng biết ơn của mình và chỉ có như thế. Nhưng một giọng nói trong đầu tôi lại bảo tôi nên cân nhắc lại, rằng nếu tôi chỉ nói “Cảm ơn vì bữa ăn” rồi quay lưng đi, thì nghe có vẻ khúm núm, quỵ lụy, cứ như thể là tôi đang tuyên bố mình không mua nổi thức ăn và nước uống, và giờ thì tôi lại bị kẹt ý tưởng nữa rồi.   

Tới lượt tôi. Tôi lắc lư đứng lên, cố sắp xếp lại suy nghĩ trong đầu mình trong lúc bất ngờ và cố nặn ra nụ cười như kiểu một mụ già đang làm dáng, đáng kinh tởm tới mức tôi có thể nện chết chính mình. Tôi không muốn dùng cái tên Dazai. Cái tên đó sẽ chỉ gặp sự hững hờ và khinh bỉ. Như thế thì thật bất công cho những tác phẩm đáng thương hay độc giả của tôi.

“Tôi là con út của nhà Tsushima ở Kanagi.”. Ôi, nhưng nếu tôi nói như vậy, tôi sẽ đặt mẹ và anh cả của mình vào cảnh bị mọi người ghét bỏ. Tôi biết là gần đây, một tai họa đã  đổ xuống đầu người anh trai lớn nhất của tôi. Trong suốt năm, sáu năm qua, thật sự thì, gia đình tôi đã liên tiếp gặp phải bất hạnh này đến bất hạnh khác, còn chưa kể đến những rắc rối và ô nhục mà tôi mang lại cho họ nữa. Tha thứ cho tôi. “Tôi là con út của gia đình ở Kanagi…” Đó là những gì tôi cố nói, nhưng những từ ngữ đã bị kẹt lại và tất nhiên là gần như chẳng ai nghe được.

“Một lần nữa nào!”. Một ai đó ngồi đằng trước lè nhè hét lên bảo tôi, và nỗi thất vọng gần như mất phương hướng và loạn trí của tôi tập trung ngay vào giọng nói đó và bùng nổ. “Im đi!”, tôi thì thầm trong miệng. Ít ra thì tôi nghĩ là mình đang thì thầm, nhưng khi tôi ngồi xuống và nhìn lướt quanh căn phòng, tôi chợt nhận thấy không khí buổi họp mặt bỗng trở nên lạnh ngắt. Xong rồi. Hy vọng được cứu rỗi đã tan thành mây khói. Những lời chê trách, khinh miệt, rằng tôi là một tên côn đồ du đãng, sẽ lan truyền khắp quê tôi, từ nhà này sang nhà khác.

Tôi sẽ không kể tiếp về việc mình đã hành xử khiếm nhã như thế nào sau đó đâu. Thú nhận mà không xấu hổ hay sợ hãi gì như thế, cứ như là tôi đang nài xin độc giả của mình giúp đỡ và an ủi, và thậm chí có thể do cái ước vọng đê tiện mong được giảm nhẹ bớt lỗi lầm của tôi mà ra. Tôi phải gánh lấy tội lỗi của mình trong im lặng và chờ đợi sự phán xét từ Thượng Đế. Tôi chỉ có thể trách chính bản thân mình. Cứ cho là tôi đã phơi bày một phát toàn bộ những thói xấu xa, và sự mục nát trong tâm hồn mình. Trên đường về, trong cơn mưa tầm tã, tôi lên một chiếc xe kéo ở Ga Kichijoji. Người kéo xe là một ông già hom hem, yếu ớt. Mưa ướt đẫm người ông ta, lảo đảo bước đi, thở hổn hển và rên rỉ vì mệt nhọc. Tôi quát mắng ông ta suốt cả đoạn đường về:

“Rên rỉ cái gì chứ, ông bị sao vậy? Sức chịu đựng của ông ở đâu mất rồi hả? Chạy đi chứ! Nhanh lên!” Tôi đã thể hiện lồ lộ ra cái bản chất thật, đầy độc địa và tàn nhẫn của mình.

Đêm đó, cuối cùng thì tôi cũng thấm thía được sự thật. Rằng tôi không phải loại người có thể đứng trên thiên hạ. Bản thân tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận và buông xuôi. Tôi, không nghi ngờ gì nữa, phải từ bỏ cái giấc mộng vinh quang trở lại quê nhà. Tôi nên tiếp tục sống với thái độ bình tĩnh, luôn khắc ghi trong lòng câu châm ngôn xưa rằng đồng cỏ xanh nằm ở nơi bạn tìm kiếm chúng. Tôi có lẽ sẽ vẫn là một gã nhạc công tầm thường nơi góc phố cho đến trọn đời. Chỉ những ai muốn lắng nghe thứ âm nhạc dại khờ và bướng bỉnh của tôi – chỉ họ mới nên nghe. Nghệ thuật không thể ra lệnh cho ai cả. Nghệ thuật chết đi ngay khoảnh khắc nó có quyền lực trong tay

Ngày hôm sau, một người bạn hiện đang nghiên cứu lối vẽ tranh theo kiểu phương Tây đến Miataka thăm tôi, và tôi kể anh ta nghe về thất bại thảm hạm của mình đêm trước cùng quyết tâm với chính bản thân mình. Người bạn này của tôi cũng bị xua đuổi khỏi quê hương mình, một nơi trên một hòn đảo ở Biển Nội Địa.

Anh ta bảo rằng, “Quê hương như cái nốt ruồi trên mặt. Khi mà cậu để nó làm phiền tới mình, thì cậu sẽ bị phiền nhiễu mãi thôi. Cậu có thể mổ nó đi, nhưng vết sẹo thì sẽ còn mãi.”  Anh bạn này có một nốt ruồi to cỡ hạt đậu tây dưới mắt phải.

Tôi không cảm thấy nhẹ lòng đi chút nào trước lời an ủi nửa vời của anh ta, và tôi ngửa đầu ra sau, rầu rĩ nhả khói thuốc lên trần nhà. Đó là lúc chuyện này xảy ra. Bạn tôi, trông thấy tám khóm hoa hồng trong vườn, cho tôi biết một sự thật đáng ngạc nhiên. Anh ta bảo rằng, những cây hoa hồng này, thuộc loại thượng hạng.

“Anh chắc chứ?”

“Chắc chắn đấy. Chúng phải được ít nhất sáu năm tuổi rồi. Cậu phải trả tới tận một yên cho mỗi khóm như thế ở chợ hoa đấy.” Anh bạn của tôi là một người đã dành ra rất nhiều thời gian và tâm huyết cho loài hoa này. Ở khu vườn nhỏ tại nhà anh ấy ở Ogikubo, anh có trồng đến bốn mươi hay năm mươi khóm hoa hồng.

“Nhưng cái người phụ nữ bán chúng cho tôi là một kẻ lừa gạt.”, tôi nói, và kể vắn tắt cho anh ta nghe về việc tôi đã bị lừa như thế nào.

“Những người kiếm sống bằng nghề buôn bán thường hay nói dối ngay cả khi họ không cần phải làm thế. Chắc là bà ta thật sự rất muốn cậu mua chúng thôi. Thưa bà, có thể cho tôi mượn cây kéo tỉa cành được không?”. Bạn tôi bước xuống vườn và nhiệt tình tỉa hết những cành cây thừa thãi.

“Có lẽ bà ta cũng cùng quê với tôi, người phụ nữ đó đó.”, tôi nói. Má tôi bỗng ấm lên vì một lý do nào đó. “Vậy ra, bà ta cũng không hoàn toàn là một kẻ lường gạt, nhỉ?”

Ngồi trên hành lang, hút điếu thuốc lá, tôi cảm thấy vô cùng mãn nguyện. Thượng Đế có thật. Ngài ấy thật sự tồn tại. Đồng cỏ xanh là nơi bạn tìm kiếm chúng. Hãy nhìn vào quả ngọt đến từ sự không kháng cự. Tôi tự xem mình là một kẻ may mắn. Người ta nói là hãy trải nghiệm nỗi đau buồn, bất hạnh bằng bất cứ giá nào. Rằng trời xanh đẹp nhất khi ta nhìn ngắm qua song sắt cửa sổ nhà tù. Và còn nhiều nữa. Cảm ơn. Và trong một khoảnh khắc, ý nghĩ này lóe lên trong đầu tôi: Chỉ cần những bông hoa hồng này còn tồn tại, tôi sẽ là vị vua của chính trái tim mình.


  1. tsubo: đơn vị đo diện tích đất đai của người Nhật, một tsubo bằng hai tatami và bằng khoảng hơn ba mét vuông
  2. sen: đơn vị tiền tệ của người Nhật, một yên quy ra được một trăm sen

Vì đây là lần đầu tiên mình thử dịch truyện ngắn, đặc biệt hơn nữa là truyện của tác giả mình yêu quý nhất, mình rất mong nhận được những lời nhận xét và góp ý của tất cả mọi người, nhất là những bạn/ anh/ chị, có thể đọc được nguyên tác tiếng Nhật của Dazai sensei. Bản dịch này của mình được dịch từ bản dịch tiếng Anh của dịch giả Ralp F. McCarthy, trong tuyển tập “Self Portraits: Tales from the life of Japan’s great decadent romantic Osamu Dazai”.

Nếu có trích dẫn hoặc chia sẻ xin hãy dẫn nguồn, vì nếu không, mình sẽ buồn như sensei vậy…

Cảm ơn tất cả mọi người!