~Dịch: NHẬT KÝ KHỔ ĐAU (悶悶日記) – DAZAI OSAMU~

Ngày ________ tháng _____

Ai đó bỏ một con rắn còn sống vào hộp thư. Phẫn nộ. Ai làm trò này hẳn là rất khóa trá khi cười nhạo những nhà văn thất bại, phải ra kiểm hộp thư tận hai mươi lần một ngày. Bắt đầu cảm thấy thật tệ và nằm luôn trên giường suốt cả ngày. 

Ngày ________ tháng _____

 “Đừng đem nỗi khổ đau của mình ra bán” — thư của một người bạn.

Ngày ________tháng _____

Sức khỏe tệ quá. Khạc đờm ra máu. Báo cho người nhà biết, nhưng có vẻ như không ai tin mình.  

Cây đào đang nở hoa ở góc vườn. 

Ngày ________tháng _____

Tiền thừa kế từ cha có khoảng 1.5 triệu yên. Chẳng biết giờ còn bao nhiêu nữa. Dù gì thì cũng đã bị truất quyền thừa kế từ tám năm trước rồi. Chỉ xoay xở sống được tới chừng này nhờ anh trai hảo tâm giúp đỡ. Nhưng từ giờ trở đi phải làm sao đây? Còn chưa một lần dám mơ tới chuyện tự kiếm tiền sinh hoạt. Cứ đà này, chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài chết đi thôi. Ngày hôm nay, kẻ tệ hại này, chính là bài học cho bạn đó, một nhà văn tồi với những tác phẩm dở tệ. 

Dan Kazuo đến chơi. Mượn cậu ấy 40 yên.

Ngày ________tháng _____

Chỉnh sửa bản in thử của tập truyện ngắn Vãn Niên. Chợt tự hỏi liệu đây có khi nào là tác phẩm cuối của mình không. Chắc chắn là phải rồi, không nghi ngờ gì nữa.

Ngày ________tháng _____

Số người chưa từng nói xấu mình trong năm nay: ba? Ít hơn à? Chắc chắn không rồi. 

Ngày ________tháng_____

Thư của chị gái.

 “Chị vừa gửi em 20 yên, nên em đến nhận tiền đi nhé. Em đẩy chị vào một tình huống khó xử khi cứ xin tiền mãi như thế. Chị cũng không nói cho mẹ biết được, nên lúc nào cũng là tiền riêng của chị, và điều này càng làm mọi chuyện khó khăn hơn.  

Mẹ cũng không có nhiều tiền đâu… Em phải sống tiết kiệm hơn và đừng tiêu xài hoang phí quá.

Tòa soạn hẳn là có trả em chút đỉnh tiền mà phải không? Em đừng mượn tiền của người khác nữa và sống thắt lưng buộc bụng nhé. Chăm sóc cho bản thân mình tốt hơn. Nhớ chú ý sức khỏe, và đừng ra ngoài với bạn bè nhiều quá. Mọi người cũng rất mệt mỏi khi phải lo cho em hoài…”

Ngày ________tháng _____

Uể oải suốt cả ngày. Bắt đầu vật lộn với chứng mất ngủ. Hai đêm rồi. Nếu đêm nay không ngủ được nữa thì ba đêm.

Ngày ________tháng _____

Sáng sớm đi gặp bác sĩ. Chợt nhớ bài thơ của Tanaka:

Nếu tôi quên mất

hành trình của mình, than khóc, suốt chặng đường này 

thì ai sẽ biết cho đây?

Ép bác sĩ phải kê cho tôi morphine.

Ngủ dậy lúc đầu giờ chiều. Cảm thấy lo âu và buồn bã khi nhìn những chiếc lá non. Quyết định rằng mình phải mạnh khỏe hơn. 

Ngày ________tháng _____

Những nỗi tủi hổ khiến tôi phẫn hận nhất đã bị gia đình nhắc lại mà không hề ngần ngại. Nhảy dựng lên. Xỏ đôi guốc geta. 

Ôi gia đình! Trong chốc lát, đứng sững lại như trời trồng. Đá đổ lò than. Đá bay chậu than. Vào căn phòng chỉ rộng 4 chiếu rưỡi và đá ấm nước văng tới cánh cửa trượt. Lớp kính trên cửa kêu lạch cạch. Đá cái bàn trà lật úp. Nước tương bắn lên tường. Ly tách và đĩa lót. Đồ để trút giận mà thôi. Không thể sống tiếp nếu không đập phá hết những thứ này. Không chút hối hận. 

Ngày ________tháng _____

 “Một mét bảy và đầu tóc thì bù xù.” “Chết trong tủi nhục.” Nhớ lại những từ mình viết lúc trước, tự cười thầm. 

Ngày ________tháng _____

Yamagishi Gaishi đến chơi. Bốn bề thọ địch, mình nói. Ồ, không, chỉ hai phía thôi, thật đấy, ảnh đáp. Mình cười thật đẹp trai. 

Ngày ________tháng _____

Khi không lên tiếng thì có vẻ ổn. Vô luận như thế nào, mình chỉ mong họ lắng nghe điều này. Không, đã đủ lắm rồi. Nhưng — …

Tranh cãi với người nhà chỉ vì 1.5 yên trong suốt ba tiếng đồng hồ đêm qua. Thật xin lỗi.

Ngày ________tháng _____

Không thể đi vệ sinh một mình vào ban đêm. Có một đứa bé trai nhỏ nhắn, mảnh khảnh khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, mặc bộ yukata trắng cứ lẽo đẽo sau lưng. Mấy ngày nay, mỗi việc ngoái đầu lại thôi cũng là một chuyện sống còn với mình. Chắc chắn là có một đứa nhỏ ở đó mà. Yamagishi Gaishi bảo là do tổ tiên mình khoảng năm hay sáu đời trước đã làm “một chuyện vô cùng độc ác và tàn bạo”. Có thể thế lắm.

Ngày ________tháng _____

Hoàn thành tiểu thuyết tiếp theo rồi. Điều này đã luôn làm mình hạnh phúc như thế sao? Đọc qua lại một lần nữa. Có vẻ hay. Nhắn cho hai, ba người bạn biết. Giờ có thể trả tiền cho mọi người rồi. Tựa đề là “Con khỉ trắng điên cuồng”.

(Dịch từ bản tiếng Anh vốn được đăng ở 2 links này: http://no-sword.jp/bassharp/2005/04/angst-journal-dazai-osamu.htmlhttp://guillaumemorissette.tumblr.com/post/93253903311 nhưng giờ cả 2 links đều down rồi. Mọi người có thể xem bản gốc tiếng Nhật ở đây nhé: https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/1589_18111.html)

P/S: Nếu thời đó có Twitter…. =)))))

Bonus mọi người hình chụp quyển tập của sensei: =))))

~ Trích dẫn trong một số tác phẩm của Dazai (Phần 1) ~

1. Rồi, độc giả ơi, ta sẽ gặp lại nhau sau nhé, nếu mình còn sống. Chúng ta hãy giữ vững tinh thần. Đừng tuyệt vọng. Tạm biệt nhé. (Tsugaru)

2. Người trưởng thành là những kẻ cô đơn. Dù cho chúng ta có yêu nhau đi, ta vẫn phải cẩn thận không được thể hiện ra ở chốn công cộng. Và tại sao chúng ta lại phải thận trọng như thế chứ? Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì con người rất hay bị phản bội và nhục nhã công khai. Việc phát hiện ra rằng mình không thể tin tưởng con người là bài học đầu tiên mà những người trẻ tuổi học được khi trưởng thành. Người trưởng thành là những thanh thiếu niên đã bị đời phản bội. (Tsugaru

3. Đã vượt qua cả một chặng đường dài để đến đây thăm bà ấy, đã tìm được nơi bà ấy sống ngay tức thì, nhưng lại phải quay trở về nhà mà không thể gặp được bà ấy – có lẽ đây chính là kết cục thích đáng cho cuộc đời hư hỏng của tôi suốt những năm qua. Những kế hoạch mà tôi đã sắp xếp đầy hào hứng và say mê, cuối cùng luôn rơi vào cảnh rối ren, như bây giờ. Tôi đúng là đã sinh ra dưới một vì sao xúi quẩy. (Tsugaru)

4. Tôi không thể giải thích điều này một cách rõ ràng, nhưng, tôi có một nỗi ám ảnh rằng mình phải sống một cuộc đời như một – ừ thì – một nhà văn mẫu mực, có thể nói như vậy. Nhưng cái tính tự cao tự đại ngu xuẩn đã biến tôi thành một kẻ hợm hĩnh tầm thường, nên tôi sẽ chẳng bao giờ làm được đâu. (Tsugaru)

5.

Nhà Vua: Hamlet, có vẻ như dạo gần đây con không được vui. Con có muốn sang Pháp chơi không?

Hamlet: Tôi sao? Ông đùa đấy à? Tôi sắp xuống Địa Ngục rồi. (Tân Hamlet)

6. Đó là một buổi chiều vào giữa tháng Chín. Bộ yukata trắng của tôi đã quá mùa, và tôi thấy mình như đang phát sáng lòe lòe lên trong đêm, “nổi” một cách kinh khủng, và điều đó đã khiến tôi suy sụp, buồn đau đến độ chẳng còn muốn sống trên đời. (Không đùa đâu)

7. Tôi là một trường hợp hết hy vọng rồi, không thể nào hòa nhập được. Mặc kệ tôi đi, tôi nghĩ thầm, lòng đầy cay đắng, mình chỉ là một kẻ kỳ quặc mà thôi. (Mỹ thiếu nữ)

8. Ta tin rằng mình hiểu cuộc đời, nhưng có những lúc, ta không hề hay biết rằng mình đã đánh mất điều gì đó vô cùng quan trọng. (Tân Hamlet)

9. Tôi chưa từng hay biết rằng quá nhiều điều đau khổ lại có thể lần lượt nối đuôi nhau xảy ra. Nỗi đau lại sinh ra thêm nỗi đau, và những tiếng thở dài lại chỉ mang đến thêm những tiếng thở dài khác từ tận đáy lòng. Tự sát. Đó là lối thoát duy nhất. Đúng vậy, chính là con đường duy nhất…. (Tân Hamlet)

10. Tôi là một cánh hoa sắp rụng xuống. Chỉ một làn gió nhẹ nhất thoảng qua cũng khiến tôi run rẩy và sợ hãi; chỉ một lời công kích không đâu cũng đủ khiến tôi quằn quại khổ đau và tính đến chuyện chết đi.  (Hồi ức)

~Dịch: CHỜ ĐỢI (MATSU) – DAZAI OSAMU~

Dazai Osamu Sayings By Osamu Dazai: Nevertheless, I still wait for someone. Who on earth am I waiting for, sitting here

Mỗi ngày, tôi đều ghé đến nhà ga bé nhỏ trên tuyến đường sắt của chính phủ để được gặp một ai đó. Để gặp một người mà tôi không hề biết là ai. Tôi đi chợ mua sắm, và trên đường trở về, vẫn không bao giờ quên ghé lại nhà ga, ngồi xuống băng ghế vắng lặng ở đây, đặt chiếc giỏ đi chợ lên đùi, và lơ đãng nhìn về phía cổng soát vé. Tàu đến rồi tàu đi, những dòng người tuôn ra từ cửa tàu, chen chúc nhau qua cổng soát vé. Với vẻ cau có như nhau, một vài người trình thẻ đi tàu hằng ngày của mình, số khác thì đưa vé tàu của họ; thế rồi tất cả mọi người lại vội vã đi qua, chẳng buồn nhìn ngó xung quanh, đi ngang băng ghế tôi đang ngồi, thẳng đến quảng trường trước nhà ga, và rồi chia nhau đi mọi ngả. Tôi lơ đãng ngồi đó. Một người nào đó bắt chuyện với tôi, và mỉm cười. Thật đáng sợ làm sao! Tôi phải làm gì đây? Tim tôi đập loạn hết cả lên. Chỉ cần nghĩ đến khả năng này, là cả người tôi run lên vì sợ hãi, như thể bị dội hẳn một xô nước lạnh lên lưng và nghẹt thở. Tuy thế, tôi vẫn ngồi đây chờ đợi một người. Tôi đang chờ ai cơ chứ, ngày nào cũng ngồi đây mãi? Người đó là kiểu người gì đây? Có lẽ, điều mà tôi đang chờ đợi, có khi còn chẳng phải là một con người. Tôi ghét loài người. Không, tôi sợ hãi trước họ thì đúng hơn. Khi tôi gặp một ai đó và chào hỏi những câu vô cảm như “Bạn khỏe không?” hay “Trời lạnh nhỉ?”, những câu mà tôi không hề muốn thốt lên chút nào, tôi cứ có một cảm giác vô cùng khó chịu, rằng trên đời này, không có kẻ dối trá nào tệ hại hơn bản thân mình nữa, và thật lòng, tôi muốn chết đi cho xong. Và những người khác nữa, họ cũng e dè tôi quá thể, và cứ cố dùng những ngôn từ lịch thiệp để tỏ ra vô hại và không hề có ý xúc phạm tôi, cũng bởi tính khoa trương và thứ cảm xúc giả tạo của họ. Khi tôi lắng nghe hết thảy những lời nói đó, tôi cảm thấy sự thận trọng một cách tầm thường của họ thật tệ hại làm sao, và cả thế gian này ngày càng trở nên ghê tởm đến không thể chịu nổi. Tôi tự hỏi, có phải “nhân gian”, thứ sinh vật dành cả đời để chào hỏi nhau một cách cứng nhắc và máy móc này, e ngại và thận trọng trước nhau, để rồi trở nên chán ghét lẫn nhau? Tôi ghét phải gặp gỡ mọi người. Và vì thế, tôi không bao giờ dẫn đầu và đến thăm nhà một người bạn nào hay những điều tương tự thế, nếu như không thật sự cần thiết. Tôi thấy dễ chịu nhất là khi ở nhà, chỉ có mẹ và tôi, ngồi yên lặng bên nhau và may vá. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh nổ ra, và tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang ở khắp nơi, tôi bắt đầu cảm thấy tội lỗi khi ngồi ở nhà một mình, chẳng làm được việc gì ngày này qua ngày khác; tôi cảm thấy khó chịu một cách mơ hồ, và không thể nào thư giãn được nữa. Tôi muốn làm việc cật lực và trở nên hữu ích trực tiếp cho cuộc đời. Tôi đã đánh mất lòng tin vào lối sống của mình từ trước đến nay rồi.

Tôi thấy rằng mình không thể chỉ ngồi yên lặng trong nhà mãi nữa; tuy vậy, sau khi ra ngoài nhìn xung quanh, tôi nhận ra mình chẳng có chỗ nào để đi cả. Vì thế, tôi đi mua sắm và trên đường về, tôi ghé qua nhà ga và ngồi vẩn vơ trên băng ghế lạnh. Cái hy vọng rằng “Có ai đó tình cờ xuất hiện ở đây… !“— nỗi khiếp sợ “Nếu có người xuất hiện thật, trời ơi, mình phải làm gì đây?“— sự xác định như thể buông xuôi, rằng “Chẳng có gì để làm nữa, nếu anh ấy xuất hiện; hãy để tôi trao trọn cuộc đời mình cho con người này; và số phận của tôi sẽ được định đoạt ngay giây phút đó.“— những mơ tưởng vẩn vơ này và còn nhiều ý nghĩ đáng xấu hổ khác nữa cứ quấn vào nhau một cách khác thường trong đầu tôi; tim tôi nghẹn lại với một mớ bòng bong những cảm xúc và tôi gần như nghẹt thở vì đau đớn. Tôi cảm thấy như thể mặt đất vừa nứt ra dưới chân mình, như thể mơ màng chẳng rõ mình đang sống hay chết, như đang nằm mơ giữa ban ngày ban mặt; và dòng người đến rồi lại đi trước cửa nhà ga nữa, dường như, cũng dần nhỏ bé lại và ngày càng xa xôi, cứ như tôi đang nhìn vào đầu bên kia của chiếc kính viễn vọng, và cả thế giới trở nên hoàn toàn câm lặng. Tôi đang đợi chờ cái gì cơ chứ? Có thể là, tôi là một cô gái không đứng đắn chút nào. Có thể, “Chiến tranh đã nổ ra, và vì thế tôi mơ hồ cảm thấy hơi khó chịu; tôi muốn làm việc cật lực và trở nên hữu ích cho cuộc đời“, tất cả chỉ là lời dối trá mà thôi; và sự thật là tôi đang lấy cớ một cách khoa trương trong khi trông chờ một cơ hội để những ước vọng liều lĩnh của mình thành hiện thực. Giờ tôi đang ở ngay đây, ngồi như thế này, với một khuôn mặt lơ đãng, nhưng trong lòng tôi, tôi hoàn toàn nhận rõ được cái mưu đồ tinh quái của mình chẳng khác một ngọn lửa đang bập bùng cháy.

Rốt cuộc tôi đang chờ đợi ai đây? Chẳng có một điều gì rõ ràng; tất cả mọi thứ đều thật mơ hồ. Tuy thế, tôi vẫn cứ chờ đợi. Từ khi chiến tranh bùng nổ, ngày này qua ngày khác, trên đường về sau khi mua sắm xong, lúc nào tôi cũng ghé qua nhà ga, ngồi trên băng ghế này và chờ đợi. Ai đó bước đến bên tôi một mình và mỉm cười với tôi. Đáng sợ quá! Mình phải làm gì đây? Người tôi đang chờ đợi không phải bạn đâu. Ừ thì, mình đang chờ ai đấy nhỉ? Chồng của người ta. Không. Người yêu của họ. Không. Bạn của họ. Không! Tiền. Vớ vẩn. Một linh hồn đã khuất. Dừng ngay đây được rồi!

Đó là một điều yên bình và hiền hòa hơn nhiều, sáng sủa và rực rỡ, tuyệt diệu. Tôi chỉ không biết đó là gì mà thôi. Chẳng hạn, một điều gì đó như mùa xuân. Không … không phải thế. Lá xanh. Tháng Năm. Dòng nước trong vắt chảy qua cánh đồng lúa mì. Cũng chẳng phải nốt. Tôi bất giác thở dài! Dù thế, tôi vẫn tiếp tục chờ đợi. Tôi chờ đợi, lòng đầy hồi hộp và kích động. Người ta lướt qua trước mặt tôi, từng đoàn người như thế. Không phải người này, người kia cũng không phải. Tôi ôm lấy chiếc giỏ đi chợ, run rẩy và chú tâm chờ đợi. Xin người đừng quên tôi. Xin đừng cười chê một cô gái tuổi đôi mươi, ngày nào cũng đến điểm hẹn ở nhà ga để rồi thất vọng trở về; xin hãy nhớ đến tôi và giữ lấy hình bóng tôi trong tim người. Tên của nhà ga bé nhỏ này, tôi sẽ không cho người biết đâu. Mà ngay cả khi tôi không cho người biết, sẽ có một ngày, người cũng bắt gặp tôi thôi. 

(Source: Mình dịch từ bản dịch tiếng Anh của David J. Brudnoy và Shimizu Kazuko, các bạn có thể đọc bản gốc tiếng Nhật ở link này nhé: https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/2317_13904.html)

~ Điếu văn cho Oda ~

Sakunosuke Oda.JPG

Oda Sakunosuke

Oda muốn chết… Tôi đã có cơ hội gặp cậu ấy hai lần sau khi đọc hai truyện ngắn mà Oda viết, lần đầu tiên chúng tôi gặp nhau là vào một tháng trước. Chúng tôi không hẳn là bạn của nhau, chỉ là người quen mà thôi. 

Tuy nhiên, với tôi thì, không ai hiểu được nỗi đau khổ của Oda hơn bản thân tôi.

Lần đầu gặp Oda ở Ginza, tôi đã nghĩ “Ôi, thật là một anh chàng khổ sở”, và tôi gần như không chịu đựng được nỗi đau này tỏa ra từ con người này. Oda tạo cho người khác một ấn tượng rõ nét rằng, con đường phía trước của cậu ấy chẳng có gì cả, trừ một bức tường chết chóc chặn ngang.  

Cậu ấy muốn chết. Nhưng chẳng có một thứ gì mà tôi có thể làm để giúp Oda. Khuyên nhủ cậu ta như một đàn anh ư – đó chỉ là một trò đạo đức giả thật đáng ghê tởm mà thôi. Chẳng thể làm gì cả ngoại trừ việc lẳng lặng chứng kiến hết thảy.

Oda sáng tác vội vàng như thể không còn thời gian nữa, dù rằng vẫn mang theo không khí chết chóc, u ám bên mình. Tôi chợt nghĩ, thời đại này của chúng ta, lẽ ra nên có thêm những người như cậu ấy. Thế nhưng, thật không may, tôi chẳng thể tìm ra người thứ hai như Oda trong cái thế giới vô nghĩa và đáng chán này. 

Những bậc “cao nhân” của thế gian này chắc hẳn sẽ lên mặt chỉ trích cậu ấy, bảo rằng Oda không có chút tự tôn nào. Nhưng sao các người dám cho mình có cái quyền đó!

Ngày hôm qua, tôi đọc được trong bài luận dẫn nhập về Senancour của Ngài Tatsuno [Yutaka] những lời này: “Người ta nói thật tội lỗi biết bao khi chạy trốn khỏi cuộc đời bằng cách tự sát. Thế nhưng, chính những kẻ ngụy biện này, những kẻ ngăn cấm tôi tìm đến cái chết, lại luôn đặt tôi vào chỗ chết, buộc tôi phải tiến dần đến bờ vực của cái chết. Họ nghĩ ra vô vàn ý tưởng để cái chết có cơ hội hiện hữu quanh tôi, những lời thuyết giáo giả tạo của họ ép tôi đến cái chết, và những luật lệ mà họ áp đặt mang cái chết đến cho tôi.” 

Chính các người đã giết Oda, không phải sao?

Cái chết đột ngột của Oda chính là bài thơ phản kháng cuối cùng và đau đớn của cậu ấy.

Làm tốt lắm, Oda!

(Lược dịch từ bản tiếng Anh trong sách The Saga of Dazai Osamu – A Critical Study with Translations của Phyllis I. Lyons và tham khảo thêm ở bản gốc tiếng Nhật. 

https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/42365_15875.html )

~ YUMURA ONSEN ~

Yumura Onsen – Nơi sáng tác của “Nhà văn phiền não” – Dazai Osamu 

Dazai đến thăm Yumura lần đầu tiên vào tháng Sáu năm 1942.

Kết hôn được một năm, Dazai liền bắt đầu thuê một ngôi nhà mới ở Kofu cho đến tận lúc tháng Chín dời đến Tokyo. Vào thời điểm này, Yumura Onsen có khoảng 10 lữ quán được xây dựng giữa những nguồn suối nóng của khu vực này. 

Ông đã miêu tả “Meiji Onsen” trong truyện ngắn “Bishoujo“(Mỹ thiếu nữ – 美少女) của mình như thế này:

“Ở khu vườn ngay phía trước nhà tắm công cộng, có một cây lựu to lớn đứng sừng sững, nở hoa đỏ rực cả một khoảnh sân.” 

“Nhà tắm này mới được xây gần đây thôi; bên trong rất gọn gàng, sạch sẽ và sáng sủa; với những miếng gạch men trắng sáng bóng ốp trên tường và đầy ánh mặt trời.” 

Trong khoảng thời gian sống ở Kofu, Dazai chỉ đến đây một vài lần, nhưng sau khi chuyển đến Tokyo thì nhà văn thường xuyên ghé đến Yumura. 

Từ giữa tháng Hai đến cuối năm 1942 và hai lần vào giữa tháng Ba 1943, Dazai đã ở lại  Meiji Onsen để sáng tác.

当時の旅館明治   後ろが湯村山

Vào thời điểm đó, khu vực Meiji Onsen có kết cấu như bức ảnh này, với lầu được dùng làm phòng cho khách ở. 

Dazai đã thuê cả phòng thứ nhất và thứ hai của tòa nhà chính bên trái, đây cũng là hai phòng có tầm nhìn ra ngoài đẹp nhất (ngày nay là Futaba-no-ma).

Ông sáng tác ở phòng số hai, đây là căn phòng có không gian sáng sủa, còn ngủ thì ở căn phòng thứ nhất. 

Có vẻ như Dazai rất hay ngủ ngày, nhưng nhà văn lại bảo rằng “Tôi luôn mặc hakama vào buổi sáng khi thức dậy”, điều đó cho thấy Dazai là một người khá thời thượng. 

Những người làm việc ở lữ quán này ban đầu không biết ông là một nhà văn. Mãi sau đó, khi họ tò mò và hỏi người phụ trách là Dazai đang viết gì thế, thì mới biết được ông là một tác giả. 

Hai tác phẩm mà Dazai đã sáng tác ở Lữ quán Meiji là “Chính nghĩa và Mỉm cười” (正義と微笑) và “Hữu đại thần Sanetomo” (右大臣実朝)

Dazai đã có một mối gắn kết sâu sắc với Yamanashi từ khi ông đến Misaka-toge Tenge Chaya vào năm 1938, và năm 1945, ông di tản đến nhà bố mẹ vợ của mình nhưng chỉ ít lâu sau thì nhà cháy, và phải trở về ngôi nhà của mình ở Aomori. 

Có lẽ, cho đến lúc qua đời, ông cũng không có cơ hội về thăm Kofu thêm lần nào nữa.

(Source: https://en.yumura.org/attractions/hatinomiyaato-dazaiosamu/) 

~ Funabashi, vùng đất yêu quý của nhà văn Dazai Osamu ~

Vùng đất Dazai yêu quý nhất

Dazai sinh ra ở một ngôi làng với tên gọi Kanagi (nay là thành phố Goshogawara), thuộc Quận Kitatsugaru ở Tỉnh Aomori. Ông đã sáng tác vô vàn tiểu thuyết và truyện ngắn nối tiếng, như Fugaku Hyakkei (Một trăm cảnh núi Phú Sĩ), Hashire Merosu (Chạy đi, Melos!), Tsugaru (Tsugaru), Shayo (Tà dương), và Ningen Shikkaku (Thất lạc cõi người). Năm 1948, ông trầm mình xuống dòng Kênh Tamagawa ở Làng Mitaka (nay là Thành phố Mitaka) thuộc Quận Kitatama, và qua đời khi còn rất trẻ, chỉ mới 39 tuổi.

Dazai, người đã sống một cuộc đời hỗn loạn, với những khó khăn trong việc giao tiếp xã hội, và còn nghiện thuốc giảm đau, vẫn được vô số độc giả mến mộ cho đến tận ngày nay, dù người ta vẫn thường nhớ đến ông như một con người rất bi quan và phóng đãng. 

Dazai sinh ra trong một gia đình địa chủ giàu có, nhưng đã rời bỏ gia đình mình ở Tsugaru, dời nhà khắp Tokyo nhiều lần, lao vội qua cuộc đời ngắn ngủi của chính mình với tốc độ nhanh nhất.  

Trong hồi ký của mình, Jugonenkan (Mười lăm năm; 1946), ông đã viết rằng vùng đất mà ông yêu mến nhất là Funabashi.

15 tháng sống ở Funabashi

Dazai bị viêm ruột thừa dẫn đến viêm phúc mạc và trở nên nghiện một loại thuốc giảm đau gọi là  Pavinal. Để nghỉ ngơi và phục hồi sức khỏe, từ Suginami, Tokyo, ông đã dời đến Funabashi vào ngày 1 tháng Bảy, 1935, ở tuổi 26. Dazai đã sống ở đây 15 tháng, với người vợ hợp pháp của mình, Hatsuyo.

Cửa nam của Ga Funabashi của Tuyến Đường sắt Quốc gia Nhật Bản
Phố Honcho (đi thẳng từ cửa nam của Ga Funabashi)
Văn phòng thị trấn Funabashi

*Tất cả những bức ảnh này đều chụp vào những năm đầu thời Showa.

Tuy khá ngắn ngủi, thời gian Dazai sống ở Funabashi đã để lại nhiều dấu ấn tại nơi này, và cho đến hôm nay, bạn vẫn có thể đến thăm những nơi mà nhà văn từng gắn bó. Sau đây là một số nơi mà tất cả những người hâm mộ của Dazai nên ghé thăm ít nhất một lần trong đời.

Căn nhà thuê bên Sông Ebigawa 

Căn nhà trước kia Dazai từng sống là một căn nhà thuê mới xây, nằm ở 1928 Itsukaichi Honjuku Funabashi-machi, Quận Higashikatsushika, Tỉnh Chiba. Địa chỉ hiện tại là 1-Chome, Miyamoto, Funabashi. Ngôi nhà này chỉ cách Ga Funabashi chưa tới 10 phút đi bộ. 

Một ngôi nhà khác đã được xây trên nền căn nhà trọ cũ. Với những bạn biết khu mặt tiền Ga Funabashi ồn ào đến mức nào, thì nơi đây lại là một khu dân cư yên tĩnh đến lạ thường, nằm ẩn mình giữa mê cung những con phố hẹp chằng chịt. Họa hoằn lắm mới thấy xe cộ đi ngang qua đây. Và gần đó, dòng sông Ebigawa vẫn lặng lờ chảy một cách yên bình.

Cây trúc đào mà Dazai vô cùng yêu thích 

Trong một tác phẩm của mình, Dazai đã kể lại rằng, mình được một người hàng xóm tặng cho một cây trúc đào chỉ ít lâu sau khi chuyển đến ngôi nhà ở Funabashi và trồng nó vào khu vườn nhà. Trúc đào là loài cây khá hiếm ở Tsugaru (Aomori ngày nay và vùng phía tây bắc Tỉnh Iwate), quê hương của Dazai. Sau này, khi dời đi, Dazai đã nói rằng mình rất yêu quý cái cây này và bật khóc.

Trích đoạn từ tập Truyện ngắn Mekura (1936)

“Tôi dời đến đây vào ngày 1 tháng Bảy, 1935. Vào khoảng giữa tháng Tám, tôi đã bị ba cây trúc đào ở khu vườn nhà bên làm cho mê mẩn tới ngây ngất. Tôi cũng muốn có một cây. Tôi đã nhờ vợ mình xin nhà hàng xóm cho tôi một trong ba cây đó, chỉ một cây thôi là đủ, cây nào cũng được cả.”

Cây trúc đào mà Dazai được người hàng xóm tặng và đem trồng trong khu vườn của mình đã được dời đến trồng ở khu vực phía trước Trung tâm Cộng đồng vào năm 1983 và đến tận hôm nay, những người hâm mộ của nhà văn vẫn có thể đến thăm cái cây này. Ngoài ra, một bia kia niệm văn học cũng được dựng lên gần đó. 

(Địa chỉ) 2-2-5 Honcho, Funabashi

【Tạm đóng cửa】Lữ quán Kappo Tamagawa nơi Dazai sáng tác văn chương 

Khi những người hâm mộ của Dazai nghe từ  ‘Tamagawa,’ họ thường sẽ nghĩ đến Kênh Tamagawa nơi Dazai trầm mình.

Đặc biệt là, cũng có một quán trọ kiểu Nhật với cùng tên gọi Tamagawa, ở Funabashi.

Được xây dựng vào năm 1921, Lữ quán Kappo Tamagawa là một quán trọ theo phong cách Nhật Bản thuần túy, có giá trị lịch sử cao. Nơi đây vẫn tiếp đón vô vàn lượt khách đặt tiệc và nghỉ lại qua đêm, và cũng là một trong những nhà trọ kiểu Nhật hàng đầu ở Funabashi. Năm 2008, Lữ quán này được công nhận là di sản văn hóa vật thể của Nhật Bản.

Dazai đã ở lại tại Phòng Kikkyo no Ma của Lữ quán Tamagawa này trong 20 ngày để sáng tác tiểu thuyết. Ông không trả nổi tiền phòng, và thay vào đó, đã để lại vài quyển sách và bút máy để gán nợ, nhưng chúng đã bị thất lạc sau một đám cháy ở tòa nhà chính của Lữ quán vào năm 1976.

Lữ quán Tamagawa vào đầu Thời Showa 
Lữ quán Tamagawa ngày nay

(Địa chỉ) 2-6-25 Minatocho, Funabashi

Trang web của Lữ quán Kappo Tamagawa: http://www.tamagawa-go.jp/en/ 

Cầu Kokonoebashi 

Cầu Kokonoebashi bắc qua Sông Ebigawa được xây dựng vào năm 1934. Cây cầu hiện tại được xây lại vào năm 1988, vì thế, nó không phải là cây cầu ngày xưa Dazai đã bước chân qua, nhưng nó nằm gần ngôi nhà cũ của ông, và vì thế, nó đã tôn vinh Dazai với một quyển sách bằng đá chạm nổi chân dung của nhà văn, ghi chép lại các tác phẩm của ông theo trình tự thời gian, và một đoạn văn trích trong tác phẩm Hashire Merosu (Chạy đi, Melos!), và những tấm chạm khắc các cảnh trong tiểu thuyết của ông trên rào chắn cây cầu. 

*Có nhiều cây cầu bắc qua Sông Ebigawa, và đây là một điểm tản bộ ở Funabashi.

Bạn có thể xem thông tin về Ebigawa Jusankyo Meguri (tour tham quan 13 cây cầu Ebigawa) ở đây: https://www.city.funabashi.lg.jp/funabashistyle/en/003/p044409.html

Đền Okura Inari 

Trong thời gian sống ở Funabashi, Dazai đã chụp ảnh ở trước bức tượng cáo inari bằng đá, và bức ảnh này đã được dùng làm tranh bìa cho những quyển sách của ông. Nơi Dazai chụp ảnh được cho là ở Đền Okura Inari tại địa chỉ 4-Chome, Honcho, Funabashi. Khi bạn đến điểm cuối cùng của khu kinh doanh đầy những quán bar và nhà hàng, một cánh cổng torii đỏ rực sẽ hiện ra ngay trước mắt bạn. Ngôi đền này đến nay vẫn được người dân địa phương bảo vệ và giữ gìn vô cùng cẩn thận. 

(Địa chỉ) 4-31 Honcho, Funabashi

Tình yêu to lớn với vùng đất Funabashi dù trong khoảng thời gian khó khăn 

Trong khoảng thời gian sống ở Funabashi, Dazai đã sáng tác những tác phẩm như Das Gemeine, Chikyuzu (Bản đồ thế giới), Những truyện ngắn Mekura, Kyoko no Haru (Mùa xuân giả), và Kyogen no Kami (Vị thần giả) và xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên, Bannen (Vãn niên). Nếu chỉ đơn thuần nhìn vào những thành tựu này, có lẽ bạn sẽ cho rằng đây là khoảng thời gian viết lách trọn vẹn của nhà văn, nhưng thật ra, trong khoảng thời gian này, Dazai đã liên tục gặp phải một loạt những bất hạnh, khó khăn.  

Khát khao Giải Akutagawa đến tuyệt vọng

Tháng Tám 1935, một tháng sau khi Dazai bắt đầu sống ở Funabashi, người đoạt Giải Nhất Giải thưởng Văn học Akutagawa đã được công bố. Mặc dù Dazai cũng là một thí sinh tham dự cuộc thi, ông đã thất bại trước Ishikawa Tatsuzo với tác phẩm Sobo (Dân đen). Dazai, với khát khao được công nhận trên văn đàn cũng như nóng lòng muốn xoay chuyển cuộc đời túng quẫn của mình, đã mong mỏi  được trao giải, và ông chắc chắn là người bị tổn thương, suy sụp nhất trước thất bại này. Ông đã làm một việc vô cùng nổi tiếng đó là gửi một bức thư chất chứa sự phẫn nộ của mình đến Kawabata  Yasunari, vốn là một thành viên trong ban giám khảo. Ông cũng gửi thư cho Sato Haruo, một thành viên khác của ban giám khảo, xin được trao Giải Akutagawa lần hai.

Mọi nỗ lực của ông đều vô ích, và không một ai được chọn để trao Giải Akutagawa lần hai. Dazai, nhà văn nổi tiếng đến tận hôm nay, đã không thể nào hoàn thành ước nguyện đoạt Giải Akutagawa của mình.

Xuất bản tập truyện ngắn đầu tiên 

Vào tháng Sáu 1936, khoảng một năm sau khi chuyển đến sống ở Funabashi, Dazai xuất bản tác phẩm Bannen (Vãn niên), tập truyện ngắn đầu tiên của mình, ở Nhà xuất bản Sunagoya Shobo. Ông đã chọn tên gọi Bannen (Vãn niên) làm tên sách dù đây lại là quyển sách đầu tay của mình. Đây chính là nét đặc trưng của Dazai, người ý thức sâu sắc về cái chết dù còn rất trẻ tuổi. Tuy Dazai dự định dời đến  Funabashi để phục hồi sức khỏe và vượt qua cơn nghiện thuốc giảm đau của mình, các triệu chứng bệnh tình của ông không hề chuyển biến tốt hơn và sức khỏe của ông ngày một suy giảm đi. 

Nhập viện và rời Funabashi

Cơn nghiện thuốc giảm đau Pavinal của Dazai ngày càng tồi tệ, gia đình và bạn bè của ông đã cố khuyên nhủ ông nhập viện điều trị.  Ngày 13 tháng Mười 1936, Ibuse Masuji cuối cùng cũng thuyết phục được Dazai, và Dazai đã đến Bệnh viện Musashino ở Itabashi, Tokyo, để điều trị và vì thế, thời gian sống ở căn nhà tại Funabashi của ông cũng kết thúc. Trong khoảng thời gian sống ở Funabashi, ông đã thất bại cả trong việc vượt qua bệnh tật lẫn trở thành một nhà văn nổi tiếng. Dù vậy, trong tác phẩm sau này của mình, ông đã viết:

Trích đoạn từ tác phẩm Jugonenkan (Mười lăm năm; 1946)

“Tôi có một tình yêu vô cùng to lớn dành cho ngôi nhà của mình ở Funabashi-machi, Chiba.”

“Ngày mà tôi phải rời ngôi nhà này, tôi nhớ rất rõ, mình đã khóc nức nở và van nài mọi người, ai cũng được, làm ơn hãy nói gì đó đi! Cho tôi ở lại ngôi nhà này thêm một đêm nữa đi mà. Chính tôi đã tự tay trồng cây trúc đào trước cửa. Cũng chính tay tôi đã trồng cây ngô đồng trong khu vườn nhà..”

Cây trúc đào Dazai trồng vẫn nảy nở chồi non đến tận hôm nay. 

Đã 80 năm trôi qua, kể từ ngày Dazai rời Funabashi, và chúng ta vẫn không tài nào hiểu được tại sao nhà văn lại xem Funabashi là vùng đất mà mình yêu mến nhất.

Tuy thế, ở đây vẫn còn lưu giữ nhiều nơi gắn liền với Dazai cùng không gian phảng phất như vào đầu thời kỳ Showa, thời điểm nhà văn đã dừng chân ở Funabashi.

Thời gian đã trôi qua thật lâu, nhưng, khi đứng ở những nơi này, tản bộ dọc theo những đường phố cũ, có lẽ, bạn sẽ cảm nhận được chút gì đó về 15 tháng mà Dazai đã sống ở đây.

(Source: Funabashi City https://www.city.funabashi.lg.jp/funabashistyle/en/topics/p078017.html)

~ Salon Văn học Dazai Osamu ~

“Salon Văn học Dazai Osamu” được khai trương vào tháng Ba năm 2008 (năm Heisei 20) trên nền Khách sạn Isemoto, nơi Dazai thường ghé qua ngày xưa, nhằm kỷ niệm 60 năm ngày mất của và cũng là100 năm ngày sinh của nhà văn.

Front view of the literary salon (entrance)
Mặt tiền Salon Văn học Dazai Osamu

Đây là một công trình về văn học ở khu vực đô thị, với chức năng mới là sử dụng toàn bộ địa điểm liên quan của mình làm nơi triển lãm và cũng làm cơ sở trung tâm của không gian triển lãm này. Salon văn học này hoạt động qua sự hợp tác với các cư dân địa phương. Ngoài ra, đây cũng là nơi trưng bày các hiện vật (như những bản thảo viết tay của Dazai, các ấn bản đầu tiên, các tạp chí,…) nơi phổ biến thông tin và cũng là nơi họp mặt, gặp gỡ của người dân. Thêm vào đó, Salon văn học này còn là trọng điểm của dự án vinh danh Dazai với tên gọi “Mitaka, nơi Dazai từng sống” trong suốt ba năm liền cho đến ngày kỷ niệm 60 năm thành lập chính quyền thành phố vào năm 2010.

Photo of a corner with a counter in the salon
Bên trong Salon có một góc tái hiện khung cảnh Quán bar Lupin ở Ginza, cũng là một nơi Dazai thường lui tới

Địa điểm/Giờ mở cửa:
Địa chỉ: 三鷹市下連雀3-16-14 グランジャルダン三鷹1階  
Điện thoại: 0422-26-9150
Giờ mở cửa: 10:00 am đến 5:30 pm
Nghỉ: Thứ Hai hằng tuần (nếu thứ Hai là ngày lễ thì sẽ mở cửa ngày thứ Hai đó và nghỉ vào hai ngày sau đó) và dịp Tất niên – Tân niên (từ ngày 29 tháng Mười Hai đến ngày 4 tháng Một)

(Dịch từ trang https://www.city.mitaka.lg.jp/dazai/project/bungaku_salon.html (tiếng Nhật) và có tham khảo trang https://sumikai.com/japan-erleben/mitaka-in-tokyo-126335/ (tiếng Đức))

~ Dazai đã trở lại ~

Một nhà văn hiện đại vô cùng nổi tiếng với giới trẻ hậu hiện đại

Ngày 10/9/1998

Một bản thảo viết tay của tác phẩm Nhân gian thất cách. (Jiji Press; ảnh của Shinchosha)

Hai nhà văn Nhật đã đoạt giải Nobel Văn chương — Oe Kenzaburo và Kawabata Yasunari — và những nhà văn khác như Mishima Yukio và Abe Kobo, được khá nhiều người nước ngoài biết đến nhờ những tác phẩm của họ được biên dịch sang những ngôn ngữ khác nhau. Tuy nhiên, có một nhà văn, người có độ nổi tiếng trong nước vượt xa tất cả mọi nhà văn khác, đó chính là Dazai Osamu. Sinh ra trong một gia đình giàu có ở vùng phía bắc Tohoku nghèo khó, ông đã sống một cuộc đời phóng đãng, thường xuyên thất bại, và bị giày vò bởi bệnh tật để rồi cuối cùng tự sát vào năm 1948 ở tuổi 39. Nhưng những tác phẩm của Dazai đã vượt qua mọi giới hạn của thời đại mình và ngày càng nổi tiếng ở nửa thế kỷ sau ngày ông mất.  

Dazai nổi tiếng khắp Nhật Bản

Một dấu hiệu chủ yếu nhất cho sự nổi tiếng trở lại này là việc phục hồi Giải thưởng Văn học Dazai, vốn bị tạm ngưng từ năm 1978. Thành phố Mitaka ở Tokyo, nơi Dazai sống những ngày cuối cùng, và Chikuma Shobo, nhà xuất bản đã phát hành những ấn bản đầu tiên của nhiều tác phẩm sáng tác bởi ông , đã quyết định cùng nhau “hồi sinh” giải thưởng văn học này vào năm 1998.

Ngoài ra, về mặt xuất bản sách, cũng có những dấu hiệu hoạt động mới. Sau khi Chikuma Shobo phát hành Tuyển tập các tác phẩm của Dazai (tái bản lần thứ 10), một nhà xuất bản khác, Kadokawa Shoten, cũng xuất bản năm tác phẩm nổi tiếng của Dazai dưới dạng sách bìa thường. Và nhà xuất bản thứ ba, Iwanami Shoten, thì công bố một quyển sách mới với tên gọi Dazai Osamu, và một loạt những bài viết đặc biệt về Dazai cũng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học. 

Trong khi đó, ở Mitaka, nơi được dùng làm bối cảnh cho kiệt tác Shayo (Tà Dương) và nhiều tác phẩm khác của Dazai, một nhóm cư dân địa phương đã bắt đầu huấn luyện những hướng dẫn viên du lịch về việc đưa du khách tham quan những địa điểm gắn liền với nhà văn quá cố. Ngôi nhà Dazai sinh ra ở Thị trấn Kanagi, Tỉnh Aomori, sau nhiều năm bị dùng làm một nhà trọ, đã được khôi phục lại như ban đầu, và được dùng làm viện bảo tàng (Shayokan) từ tháng Tư năm 1998. Ở trung tâm vùng đồi núi của Honshu, một hiệp hội của Tỉnh Yamanashi chuyên cung cấp thông tin du lịch đã lập ra một trang riêng trong website của mình để giới thiệu nhà trọ ở thành phố Kofu, nơi mà Dazai đã ở lại và sáng tác, cũng như thể hiện chi tiết về để mọi người có thể lần theo dấu chân của nhà văn.  

Một minh chứng khác cho độ nổi tiếng không hề suy giảm của Dazai đó là sự tụ họp của mọi người hằng năm vào ngày 19/6, ngày tưởng niệm nhà văn – cả ngày sinh và ngày mất của ông đều trùng vào ngày này. Năm nay, cuộc tụ họp có rất nhiều người trẻ tuổi. “Những gì ông ấy viết chính là những điều trong lòng tôi.”, một sinh viên đại học tham dự ngày tưởng niệm cho biết, “Tôi có thể đồng cảm với Dazai nhiều hơn là với các nhà văn mới.” Và một bạn học sinh trung học cũng cho rằng lối tiếp cận khi sáng tác của Dazai cũng như bầu không khí trong các tác phẩm của ông có sự khác biệt rõ nét với các nhà văn đương thời. Theo một người tham gia tổ chức ngày tưởng niệm thì “những người hâm mộ của Dazai cảm thấy rất gần gũi với Dazai, như thể nhà văn “thuộc về” mình vậy, và họ luôn là những người khá khó giao thiệp.” Theo một bác sĩ chuyên khoa tâm thần, sự nổi tiếng không ngừng của Dazai gắn liền với “sự thấu hiểu về tâm lý của giới trẻ ngày nay, với nỗi ưu tư thường trực về ý nghĩa và mục tiêu sống trên đời.” của nhà văn.

Bí mật trong sự nổi tiếng của Dazai 

Số liệu thống kê khi xuất bản tác phẩm nổi tiếng nhất, và cũng mang tính đại diện nhiều nhất cho Dazai –  Ningen Shikkaku (Thất lạc cõi người), lần đầu bởi Shinchosha, vô cùng ấn tượng. Xuất bản lần đầu năm 1952, cho đến nay, đã có 5.3 triệu bản được in ra, một con số cực kỳ đáng nể. Chỉ riêng 1 năm, từ tháng Sáu 1997 đến tháng Sáu 1998, con số này đã lên đến 80,000 bản. Tác phẩm này liên tục cạnh tranh vị trí đứng đầu trong doanh số sách bìa thường với “Kokoro” của Natsume Soseki.

Tiểu thuyết gia và cũng là kịch tác gia lỗi lạc của Nhật Bản, Inoue Hisashi chỉ ra chính xác hai đặc điểm chính yếu khiến tác phẩm của Dazai trở nên vô cùng hấp dẫn. Thứ nhất là, “Dazai đã viết như thể mình là một thiên thần hộ mệnh trong cõi đời phàm tục này, chăm nom cho những người cũng khổ sở như ông, những người đã sống một cuộc đời dại dột bởi chính sự yếu mềm của bản thân mình. Vai trò này chính là nguồn cảm hứng của Dazai khi sáng tác tiểu thuyết.”  Thứ hai, theo Inoue, là phong cách kể chuyện ngôi thứ nhất của nhà văn. Nó có một chất giọng riêng biệt, được nuôi dưỡng bởi lối kể chuyện đặc trưng cho các loại hình nghệ thuật biểu diễn truyền thống của Nhật Bản như truyện cổ tích, kịch kabuki và những câu chuyện cười rakugo. Các đặc điểm này đã biến những câu chuyện của Dazai trở nên gần gũi, tự nhiên hơn và rất hấp dẫn với người đọc. 

(Dịch từ bản tiếng Anh của trang Trends in Japan. Link bài gốc tiếng Anh để mọi người tham khảo: https://web-japan.org/trends98/honbun/ntj980909.html?fbclid=IwAR3OmObDk6k6AGIG_qI7Zf2XkKx-4O_7G1lXZGGGoXOg68BDe0wgoc_PUjY)

~ Anh Đào Kỵ – Ngày tưởng niệm Dazai Osamu ~

Ngày 19 tháng Sáu hằng năm được gọi là Anh Đào Kỵ (Ngày giỗ hoa anh đào). Đó là ngày người ta phát hiện thi thể của Dazai, và mỗi năm, cứ đến ngày này, rất nhiều độc giả cũng như người hâm mộ của Dazai vẫn tìm đến ngôi chùa Zenrinji ở Mitaka, Tokyo, nơi chôn cất nhà văn để tưởng niệm. 

Lịch sử Anh Đào Kỵ

“Ngôi mộ của Mori Ougai nằm ở sau ngôi chùa này. Tôi không hiểu vì sao ông ấy lại được chôn cất ở Mitaka, Tokyo. Tuy nhiên, nghĩa trang ở đây rất sạch sẽ, và tôi cảm thấy như hình bóng văn chương của Mori vẫn còn phảng phất đâu đây. Sau này, khi tôi chết đi, nếu nắm xương dơ bẩn này của tôi có thể được chôn cất ở một nơi sạch sẽ như vậy, thì tôi cũng cảm thấy như cuộc đời mình được cứu rỗi rồi. Nhưng, ngay tức khắc, cái ước mong hão huyền này của tôi tan biến như làn sương dưới nắng. Tôi không có tư cách này…”   

(“Hoa xuy tuyết” – Dazai Osamu)

Ngôi mộ của Dazai nằm đối diện xéo xéo với mộ của Mori. Sau khi Dazai qua đời, bà Michiko, thấu hiểu ước nguyện của chồng, đã chôn cất nhà văn ở đây. Một năm sau ngày mất của ông, vào ngày 19 tháng Sáu năm 1949, Anh Đào Kỵ đầu tiên đã được tổ chức ở ngôi chùa này. Một cách lạ lùng, người ta đã phát hiện thi thể của Dazai vào ngày 19 tháng Sáu, trùng với ngày sinh nhật lần thứ 39 của nhà văn. Cái tên “Anh Đào Kỵ” do nhà văn Kon Kanichi, người sinh cùng năm và cũng là một người con của quê hương Tsugaru như Dazai, và cũng sống ở Mitaka, đặt để tưởng niệm ngày mất của bạn mình. “Anh Đào” cũng là một tác phẩm để đời của Dazai, sáng tác ít lâu trước khi nhà văn tự kết liễu cuộc đời, và quả anh đào, loại quả trông như những viên hồng ngọc, với mùa quả vào tháng Sáu ở phương Bắc, cũng rất phù hợp để làm biểu tượng cho cuộc đời của Dazai, một viên ngọc quý trong giới nhà văn chuyên sáng tác truyện ngắn. 

Mộ của Dazai ở Chùa Zenrinji với những quả anh đào, thuốc lá và hoa viếng (Source: Tripadvisor)

Vào những năm đầu tiên, Anh Đào Kỵ là một buổi gặp gỡ giữa những người bạn, những người có mối quan hệ thân thiết với Dazai, họ mời gia đình của nhà văn quá cố đến uống rượu sake và nhặt hoa anh đào, và tưởng nhớ Dazai, như thể nhà văn còn tại thế. Trong số họ, có những người thường xuyên tham dự như Sato Haruo, Ibuse Masuji, Dan Kazuo, Kon Kanichi, Kawakami Tetsutaro, Oda Takeo, và Nohara Kazuo. Cho đến tận năm 1963, người giữ vai trò quan trọng trong những buổi tưởng niệm này và cũng đồng thời là người chủ trì là nhà phê bình văn học Kamei Katsuichirō. Dần dần, Anh Đào Kỵ và chùa Zenrinji đã trở thành một “thánh địa” thu hút hàng trăm lượt khách từ khắp Nhật Bản đến viếng thăm, kể cả những thanh thiếu niên tuổi đôi mươi. Người tổ chức cũng chuyển giao cho Nhà xuất bản Chikuma Shobō, và từ năm 1965, thì được tiếp quản bởi các thành viên của Hội các môn đệ của Dazai như Hidezumi Katsura và Yoshitaka Kikuta. Cũng vào khoảng thời gian này, người được trao Giải thưởng văn học Dazai Osamu sẽ được công bố ở khuôn viên nghĩa trang nơi tổ chức Anh Đào Kỵ. Tuy nhiên, đến năm 1992, Hội môn đệ của Dazai cũng giải tán vì các thành viên trong nhóm đều đã cao tuổi. 

Năm mươi năm sau ngày mất của Dazai, rất nhiều người từng gắn bó với nhà văn và từng đến dự Anh Đào Kỵ đều đã trở thành người thiên cổ. Tuy thế, những tác phẩm của Dazai vẫn không ngừng thu hút các độc giả trẻ tuổi, và không ngừng có người đến dự Anh Đào Kỵ để có thể trò chuyện trong tâm tưởng với nhà văn nổi tiếng này.

(dẫn nguồn: Hidezumi Katsura “Anh Đào Kỵ, năm thứ ba mươi ba“)

Mộ của nhà văn với bia đá khắc bút danh Dazai Osamu thay vì Tsushima Shūji (Source: Zoom Japan)

Lược dịch từ trang: https://www.city.mitaka.lg.jp/dazai/dazaitomitaka/outouki.html

(Bản dịch này hẳn còn nhiều sai sót vì mình dựa vào bản dịch máy tiếng Nhật ra ngoại ngữ trung gian rồi mới về tiếng Việt =_= Đáng ra nên dịch vào đúng ngày 19/6 vừa rồi, nhưng dạo đó bệnh quá, đến nỗi phải nghỉ làm nằm ở nhà… Năm nào cũng lỡ mất ngày này…)

~ Dịch: Hoa viên (Niwa) ~

Đã lâu rồi mình không có update hay dịch thêm tác phẩm nào của sensei, cảm thấy thật có lỗi làm sao… Những tháng ngày mỏi mệt và kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần cứ thế trôi qua… Những ngày chỉ muốn nằm ngủ và không cần phải thức dậy nữa….

Một ngày chợt nhận ra, mình còn cả một cuộc đời phía trước. Những nỗi đau buồn, chán chường, thất vọng này không phải là vĩnh viễn, và mình nên làm một điều gì đó có ý nghĩa hơn cho bản thân, thay vì chỉ xoay mòng mòng quanh cái chuyện cơm áo gạo tiền. Làm một điều gì đó để vui, để thấy yêu cuộc đời của mình hơn…

Mà không phải bắt chước sensei đâu, thực sự thì mình cũng thích những khu vườn không ai tỉa tót, những gì tự nhiên, không gượng ép….

————————————————————————————————————–

Nhật hoàng Hirohito tuyên bố nước Nhật đầu hàng không điều kiện qua đài phát thanh toàn quốc vào ngày 15 tháng Tám năm 1945, chỉ vẻn vẹn hai tuần sau khi Dazai và gia đình đặt chân trở lại Tsugaru.
Dazai liên tục tự gọi bản thân là “kẻ ăn nhờ ở đậu” ngay trong ngôi nhà của gia đình mình, nhưng việc nhà văn đã ở lại đây tận 15 tháng trước khi trở lại Tokyo, lại khiến người ta cảm thấy dường như ông cũng rất tận hưởng khoảng thời gian đắm mình trong bầu không khí quê nhà, nơi cõi lòng ông đã đau đáu ngóng trông suốt nhiều năm qua. Trong 15 tháng này, người chị nhỏ nhất của Dazai qua đời, Tổng hành dinh bộ tư lệnh quân đội đồng minh chiếm đóng Nhật Bản ra lệnh cải cách địa tô, chia cắt điền sản sở hữu bởi các địa chủ giàu có (trong đó đương nhiên bao gồm cả nhà Tsushima), bà nội của nhà văn cũng mất, và anh trai cả của Dazai, Bunji, được bầu vào Chúng nghị viện (Hạ viện Nhật Bản).

“Khu vườn” thể hiện mối quan hệ nhạy cảm giữa Dazai và Bunji, đặt cạnh bên những nhân vật lịch sử như Hideyoshi và Rikyu. và sau đây là đôi lời giới thiệu về hai nhân vật này.
Toyotomi Hideyoshi (1536-1598) là thiên tài quân sự, người đã thống nhất Nhật Bản, kế tục sự nghiệp của lãnh chúa hùng mạnh Oda Nobunaga. Là con trai của một người nông dân, không học vấn và có ngoại hình xấu xí, thế nhưng ông đã trở thành cánh tay phải đắc lực của Nobunaga. Hideyoshi, tuy yêu chuộng cuộc sống xa hoa, thể hiện qua việc ông xây dựng nên tòa thành cổ Osaka tráng lệ, nhưng đồng thời cũng bị cuốn hút sâu sắc bởi “Trà đạo”. Trà đạo là một hệ thống đạo đức và thẩm mỹ mang đậm phong cách Thiền và có tác động đến toàn bộ lối sống của con người.
Sen no Rikyu (1522-1591) là bậc thầy vĩ đại nhất trong nghệ thuật trà đạo, và Hideyoshi chính là người bảo trợ cho ông. Có vô vàn giai thoại kể về mối quan hệ giữa hai người, và quan niệm thẩm mỹ hướng đến sự tinh tế và hoàn hảo của Rikyu đã được truyền lưu suốt nhiều thế kỷ để rồi gần như trở thành huyền thoại. Một trong số đó là câu chuyện Rikyu đến thăm một người bạn đang sống cuộc đời giản đơn và lặng lẽ của các trà sư. Người bạn này bước ra khỏi nhà, đứng rung cây cho quả chanh rơi xuống, và rồi dùng quả chanh đó để thêm vị cho món tương đậu nành mà ông định mời Rikyu dùng. Rikyu cảm thấy vô cùng ấn tượng và bị cuốn hút bởi món ăn thú vị này, nhưng khi người chủ nhà cũng mang cả rượu sake và bánh gạo ra mời ông, ông đã nhận ra lối sống thanh thoát, không câu thúc của người này thật ra chỉ là vẻ bề ngoài và có suy tính trước. Ghê tởm trước điều đó, Rikyu đã bỏ ra về. Nhiều câu chuyện tương tự đã kể về việc Rikyu lấn lướt cả Hideyoshi.
Hideyoshi, vào những năm cuối đời, tâm trí có vẻ không còn ổn định nữa, và nhiều người đã phải rơi đầu (trong đó có cả người cháu trai yêu quý mà ông từng chỉ định làm người kế thừa của mình). Ông vừa ngưỡng mộ, vừa ghen tị với Rikyu, và cuối cùng đã bùng nổ khi (theo một trong số các phiên bản của câu chuyện này), Rikyu đã đặt một bức tượng gỗ tạc chính mình trên chóp cánh cổng chính của Đại Đức Tự (Chùa Daitokuji). Sửng sốt và thất vọng trước sự kiêu ngạo này, Hideyoshi đã ra lệnh cho Rikyu phải mổ bụng tự sát.

Nhà chúng tôi ở Tokyo bị bom đạn làm cho hư hại nhiều, vì thế chúng tôi phải dời về nhà của gia đình vợ tôi ở Kofu, nhưng, đến khi ngay cả ngôi nhà đó cũng bị san bằng bởi những trận bom ác liệt, thì bốn người chúng tôi, tôi, vợ tôi, cô con gái 5 tuổi và cậu con trai 2 tuổi của chúng tôi, đành phải khăn gói trở về ngôi nhà ở Tsugaru, nơi tôi chào đời. Cha mẹ tôi đều đã qua đời, và người anh cả, cách tôi hơn 10 tuổi, hiện làm chủ gia đình. Mọi người có lẽ sẽ thắc mắc vì sao tôi không về quê sớm hơn, không cần phải đợi đến khi phải hứng chịu đến 2 tai họa liên tiếp thế này, nhưng thật ra, trong cái tuổi đôi mươi của mình, tôi đã làm ra đủ thứ chuyện ô danh gia đình, dòng tộc và giờ tôi cũng chẳng có tư cách gì để mà gặp lại anh trai mình. Tuy nhiên, sau hai trận bom, chúng tôi đã chẳng còn nhà để về và tôi còn phải nghĩ cho hai đứa con bé bỏng của mình nữa, thế là, tôi đành thử một lần. Vào cuối tháng Bảy, sau khi tôi gửi bức điện báo rằng chúng tôi đang trên đường đến Tsugaru, gia đình tôi đã sửa soạn rời Kofu. 

Đó là một cuộc hành trình đày ải và mỏi mệt, kéo dài đến tận 4 ngày đêm trước khi chúng tôi đặt chân đến trước ngôi nhà ở Tsugaru. Mọi người ở đó đều tươi cười chào đón chúng tôi rất nồng hậu. Có hẳn một bình rượu sake trên khay cơm tối của tôi. 

Nhưng ngay cả ở thị trấn bé nhỏ nơi mũi cực bắc đảo Honshu cũng vậy, những tốp máy bay gầm rú, quần thảo khắp bầu trời. Sau hôm tôi đến, tôi bắt đầu giúp mọi người dựng một nhà trú ẩn ở cánh đồng gần đó.  

Không lâu sau đó, Nhật hoàng tuyên bố nước Nhật đầu hàng qua radio.   Ngày hôm sau, anh trai tôi bắt đầu nhổ cỏ trong vườn. Tôi đã giúp anh ấy một tay. 

“Lúc anh còn nhỏ,” anh ấy nói, nhổ một bụi cỏ lên, “anh nghĩ là một khu vườn um tùm cũng có nét đẹp riêng của nó, nhưng khi anh già đi, chỉ một cọng cỏ ngoài đây thôi cũng đủ làm anh khó chịu rồi.” 

Tôi tự hỏi, liệu có phải là, dù đã đến từng tuổi này, tôi vẫn còn non nớt lắm. Tôi vẫn thích những khu vườn cũ, không có bàn tay chăm chút, cỏ dại mọc um tùm. 

“Nhưng, ngay cả với những khu vườn chỉ lớn bằng này thôi,” anh tôi tiếp tục, như thể đang tự nhủ với chính mình, “nếu em muốn nó trông đẹp và gọn gàng, em phải thuê một người làm vườn chăm sóc nó mỗi ngày. Và bảo vệ những bụi cây khỏi tuyết rơi trong mùa đông không hề đơn giản.”

“Phiền phức lắm đúng không anh?” người em trai đang ăn nhờ ở đậu trong nhà dè dặt tiếp lời. 

“Mọi thứ vốn cũng khá ổn đấy,” người anh điềm tĩnh đáp, “nhưng dạo này, tìm người giúp đỡ rất khó khăn, những vụ không kích khiến mọi thứ đều rung lắc cả lên, và việc thuê một người làm vườn trong thời điểm này là không thể nào rồi. Tuy giờ nó nhìn không được đẹp mắt và chỉnh chu cho lắm, nhưng em biết đó, khu vườn này không phải đơn giản là ném cây cối lung tung vào là được đâu.”

“Vâng em cũng nghĩ vậy đấy.” Người em thì không mấy hứng thú với những chuyện này. Anh ta, dù gì cũng chỉ là một gã thô lỗ, thích ngắm những khu vườn um tùm, không có bàn tay chăm sóc và cho rằng chúng thật đẹp. Khi người anh trai giải thích cho em mình biết về phong cách của khu vườn, nơi khởi nguồn của phong cách ấy, và làm thế nào mà nó được lưu truyền đến tận Tsugaru, câu chuyện giữa họ dần dần chuyển sang chủ đề về Sen no Rikyo.

“Sao mấy nhà văn như em không viết gì về Rikyo đi? Anh nghĩ là câu chuyện sẽ thú vị lắm đấy.”

“À,” tôi lập lờ đáp. Khi chủ đề chuyển sang văn chương, ngay cả kẻ chuyên ăn bám gia đình như tôi cũng có thể trưng ra cái vẻ thận trọng kiểu cách như một chuyên gia.  

“Ông ta tuyệt lắm đấy, để anh kể em nghe,” ông anh tiếp tục, không hề nản lòng trước thái độ của em mình.  “Ngay cả Hideyoshi cũng chẳng thể hơn được ông ấy. Dù gì thì em cũng từng nghe qua câu chuyện về món tương đậu nành vị chanh rồi chứ? 

“À,” người em đáp, vẫn giữ vẻ lập lờ. “Em làm nhà văn mà không chịu học tập gì cả.” anh ấy cau mặt lại, chắc mẩm là tôi chẳng biết gì hết. Khi anh ấy làm thế, khuôn mặt anh trở nên đáng sợ đến nỗi có thể khiến bạn lạnh người đấy. Anh ấy nghĩ rằng tôi là một kẻ vô học đáng khinh, rằng tôi chẳng hề đọc sách bao giờ, và điều này dường như làm anh thất vọng hơn tất cả những chuyện khác về tôi. 

Kẻ ăn bám, trở nên bối rối bởi chính sai lầm ngớ ngẩn của mình, gượng cười và nói, “Chỉ là, không hiểu sao, em không thích Rikyo cho lắm.”

“Ông ấy là một người rất phức tạp, đó chính là lý do đấy.”

“Chính xác. Có những thứ về ông ấy mà em không thể hiểu được. Dù ông ta có vẻ rất khinh miệt Hideyoshi, nhưng Rikyo lại không tài nào rời xa ông ta. Đối với em, có một cái gì đó không trong sáng lắm về chuyện này.”

“Đó là vì sức hút của Hideyoshi”, anh ấy nói, và đã hài hước trở lại. “Khó mà nói được ai hơn ai giữa hai người họ. Họ bị trói chặt trong một cuộc tranh đấu dữ dội và dai dẳng. Họ trái ngược nhau về mọi mặt. Hideyoshi có xuất thân bình dân và vẻ ngoài cũng tệ không kém, nhỏ thó và gầy gò, khuôn mặt trông như một con khỉ và còn thất học nữa. Nhưng lại yêu thích lối kiến trúc hùng vĩ, tráng lệ, và là người mở đầu cho nền văn hóa hoa mỹ, lộng lẫy vào giai đoạn sau của thế kỷ XVI. Còn Rikyo, là con cháu của một gia đình thư hương khá giả, với vóc dáng khỏe mạnh, diện mạo uy nghiêm, và là một người có học thức, nhưng lại yêu thích những điều giản đơn, tinh tế, và thanh lịch, như những mái nhà tranh chẳng hạn. Đó chính là điều khiến sự đối lập giữa họ thêm hấp dẫn.”

“Nhưng Rikyo là một thuộc cấp của Hideyoshi mà phải không? Ông ta, hình như là, người pha trà thì phải. Kết quả của cuộc chiến đã được định sẵn từ khi bắt đầu rồi mà phải không anh?” Tôi nói, vẫn cười.

“Đó tuyệt đối không phải là mối quan hệ giữa họ đâu. Rikyo nắm nhiều thực quyền hơn hầu hết các lãnh chúa, và những lãnh chúa đó, em có thể gọi họ là những người có học, và họ tôn trọng và kính phục Rikyo với lối sống tao nhã của ông ấy hơn là với một kẻ vô học như Hideyoshi. Đó chính là lý do khiến Hideyoshi cảm thấy khó chịu.”

Con người quả là loài sinh vật kỳ lạ, vừa nắm lấy những cọng cỏ, tôi vừa nghĩ. Một người như Hideyoshi, với quyền cao tột bậc, chỉ thua Rikyo về nét tao nhã trong thẩm mỹ, sao ông ta lại không thể bật cười và cho qua? Tại sao người ta không thể thỏa mãn nếu không đánh bại hết tất cả mọi người về mọi mặt? Và còn Rikyo nữa, tại sao ông ta lại phải cố khẳng định sự siêu việt của bản thân so với người chủ của mình, kẻ mà ông phải phục vụ? Hideyoshi sẽ không tài nào hiểu được rằng, ẩn sau nét đẹp tinh tế, thanh nhã chính là chủ nghĩa hư vô. Rikyo hoàn toàn có thể bỏ đi và dành cả đời mình ngao du thiên hạ, như Basho và những người khác, mà sao ông không làm như thế?  Hình ảnh ông gắn chặt bên cạnh Hideyoshi, rõ ràng là không bị lấn át hoàn toàn bởi quyền uy của người kia, thắng một chút, thua một chút, cả hai bị ràng buộc trong một cuộc tranh đấu tuyệt vọng. Với tôi, câu chuyện giữa họ thật vô nghĩa. Nếu Hideyoshi là một nhân vật có sức hút mãnh liệt đến vậy, sao Rikyo lại không thể hiện lòng yêu mến chân thành và dành trọn cuộc đời và trái tim của mình để phục vụ ông ta? 

“Chẳng có cảnh nào trong câu chuyện đó đủ đẹp để khiến người ta cảm động cả.” Có lẽ là vì tôi còn trẻ, thật tình mà nói, tôi thấy thật khó chịu khi phải sáng tác những câu chuyện chán ngấy như thế.

Anh tôi bật cười, như thể đang nghĩ rằng tôi thật ngờ nghệch làm sao. “Đó chính là chỗ mà em đang sai lầm đấy”, anh nói. “Anh thì cho là em không viết nổi. Em phải học hỏi nhiều hơn nữa về thế giới của người trưởng thành. Nhưng mà, em là một nhà văn vô học mà, chẳng phải sao?”

Anh ấy đứng lên, trông cam chịu, ngắm nhìn khu vườn. Tôi cũng làm y như vậy. 

“Nó trông đẹp hơn nhiều mà phải không?” tôi nói.

“Mm.”

Rikyu không phải là chủ đề dành cho tôi. Tôi chưa từng nghĩ đến việc chứng tỏ mình giỏi giang hơn anh ấy, nhất là khi tôi đang ăn nhờ ở đậu nhà anh. Sự đố kỵ, và tính hơn thua thật đáng hổ thẹn làm sao. Mà cho dù tôi có đang ăn bám anh hay không đi nữa, cái ý nghĩ tranh đấu với anh chưa từng xuất hiện trong tâm trí tôi mảy may. Kết cục đã được định sẵn từ lúc chúng tôi chào đời.    

Anh tôi dạo gần đây sụt cân khá nhiều. Anh ấy đã bị ốm. Thế mà vẫn có tin đồn là anh ấy đang chuẩn bị để trở thành đại biểu hay là được ứng cử làm Thống đốc. Mọi người trong gia đình tôi đều rất lo lắng cho sức khỏe của anh ấy. 

Rất nhiều khách khứa kéo đến nhà chúng tôi. Anh tôi đưa họ ra phòng khách trên tầng hai và trò chuyện với tất cả bọn họ, và chẳng bao giờ thốt lên nửa lời về sự mệt mỏi của mình. Ngày hôm qua, một nữ ca sĩ tên Shinnai đã đến. Cô ấy được biết đến như là đệ tử hàng đầu của ngài Fuji Tayu. Cô gảy đàn samisen và ca cho anh tôi nghe trong căn phòng trên tầng hai, nơi có những cánh cửa lùa bằng vàng lá. Anh ấy cho tôi ngồi nghe cùng với mình. Cô ấy đã biểu diễn bài  “Con quạ sáng sớm” và “Bị bán làm nô tì”. Phải ngồi với tư thế nghiêm túc, đầu gối tôi tê cứng, và khá đau. Tôi cũng cảm thấy như thể mình bị cảm lạnh. Nhưng ông anh đang ốm của tôi lại không thấy khó chịu chút nào, và còn yêu cầu cô ấy biểu diễn thêm hai bản nữa: “Giấc mơ tiên tri” và “Vụ tự tử đôi của anh hề”. Sau khi cô ấy trình diễn xong, cả ba người chúng tôi bước ra phòng khách, và đó là lúc anh tôi đưa ra ý kiến của mình. 

“Thật đáng tiếc làm sao khi cô phải di tản về vùng nông thôn và còn phải cày ruộng nữa, nhưng cũng đành chịu thôi vì thời thế bây giờ đẩy ta vào những tình cảnh trớ trêu thế này. Tuy nhiên, khi nào cô còn đam mê, còn hết lòng rèn luyện kỹ thuật của mình, tài chơi đàn của cô sẽ không bị thui chột dù cho phải tạm rời xa cây đàn samisen tầm một hai năm đâu. Cô có cả một tương lai rộng mở phía trước. Tôi tin chắc rằng tài năng của cô sẽ ngày càng tiến bộ và trở nên tuyệt vời hơn mà thôi.”

Dù chỉ là một kẻ “ngoại đạo”, anh ấy bình tĩnh và tự tin đánh giá người phụ nữ này, người sở hữu cầm nghệ lừng danh ngay cả ở Tokyo. Bạn thậm chí có thể tin rằng mình sẽ nghe được những tiếng vỗ tay “Hoan hô” vang lên ngoài hành lang.

Các nhà văn Nhật mà anh tôi hiện đang rất mến mộ là Nagai Kafu và Tanizaki Jun’ichiro. Anh ấy cũng là một độc giả nhiệt thành của các nhà văn tiểu luận Trung Quốc. Và tôi hiểu rằng, ngày mai, Seigen, bậc thầy cờ vây người gốc Trung Quốc, sẽ đến thăm anh. Họ sẽ có một buổi chuyện trò nhàn nhã, không phải về cờ vây, nhưng hình như là về tình hình xã hội và thế giới, và những điều tương tự thế.

Vì thế mà sáng nay, anh tôi đã dậy sớm, và ra làm vườn. Trong khi đó, người em trai thô lỗ của anh, vừa bị cảm lạnh sau khi nghe cô Shinnai đánh đàn ngày hôm qua, giờ đang ngồi thu mình trong nhà khách, ôm lấy cái lò than sưởi ấm, đắn đo không biết có nên giúp anh nhổ cỏ không, và đắm chìm vào những suy tưởng tư lợi và tùy tiện của bản thân mình. Như là, biết đâu, có thể cái người tên Seigen này cũng là một trong những người thấy một khu vườn um tùm cỏ, không ai chăm sóc cũng có vẻ đẹp riêng. 

Mùa hè, 1946, ở Kanagi.

P/s: Mọi người có thể đọc thêm về Ngôi nhà Dazai từng sống khi tản cư ở đây

Source: Dịch từ bản tiếng Anh ( với tựa đề là “Garden” ) trích trong quyển Self Portraits: Tales from the Life of Japan’s Great Decadent Romantic (Ralph F.McCarthy)

Còn đây là link bản gốc tiếng Nhật cho mọi người:   https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/302_20159.html