1. Thật không lịch sự chút nào khi làm phiền Chức Nữ với những ước vọng tham lam trong cái đêm mà cô ấy thật không muốn bất kỳ ai phiền nhiễu đến mình. Hừ, tôi thậm chí còn kiềm chế chính mình để không ngước lên nhìn ngắm bầu trời vào đêm Thất Tịch, ngay từ hồi tôi chỉ mới là một cậu bé. Tôi chỉ ao ước, sâu trong trái tim bé nhỏ của mình, rằng họ có thể tận hưởng một đêm vui vẻ mà không bị gió mưa ngăn trở. Tôi cho rằng, việc quan sát một đôi tình nhân chỉ có thể gặp nhau một lần mỗi năm, mà còn bằng kính viễn vọng nữa, là một chuyện cực kỳ thất lễ và chẳng phong độ chút nào. Sẽ xấu hổ chết đi được nếu ai đó lại hành xử như một kẻ rình mò như thế. (“Thất Tịch”)
2. Suốt bốn mươi năm sống trên đời, hầu hết tất cả những linh cảm của tôi về niềm hạnh phúc đều không thành hiện thực, nhưng về sự xui xẻo thì luôn luôn đúng. (“Người cha“)
3. Tất nhiên, những ước mơ tuổi trẻ, dù là về tình yêu hay sự căm hờn, đều nhanh chóng phôi pha. (“Đồi Khỉ“)
4. Khi tôi sống ở Mitaka, Tokyo, hầu như ngày nào cũng có bom rơi xuống gần chỗ chúng tôi, và tôi cũng chẳng buồn quan tâm nếu mình chết đi, nhưng mỗi khi tôi nghĩ đến cảnh nếu một quả bom rơi trúng con tôi, con bé sẽ phải chết đi mà chưa kịp nhìn thấy biển cả một lần trong đời, và điều đó thật khó để chịu đựng. Tôi sinh ra ở giữa Đồng bằng Tsugaru, vì thế, tôi đã không được ngắm biển cho đến tận sau này, khi có chuyến tham quan biển cả lần đầu tiên vào khoảng mười tuổi. Và niềm vui sướng kích động đó đã trở thành một trong những ký ức quý giá nhất của đời tôi. Tôi muốn cho con bé cơ hội được ngắm biển ít nhất một lần trong đời. (“Biển“)
5. Tôi chẳng có tư cách gì để đứng trên nhân gian mà diễn vai của một quan tòa hay thẩm phán. Tôi chẳng có quyền gì mà phán xét người ta. Tôi là đứa con của quỷ dữ. Vô phương cứu chữa. Tôi ngờ rằng tội lỗi trong quá khứ của tôi nặng nề hơn bạn gấp hàng chục, hàng trăm lần. (“Nghĩ về Zenzo“)
7. Chẳng ai nhận ra rằng tôi đã trở nên điên loạn; khi tôi bình phục rồi, cũng chẳng ai nhận ra điều gì khác biệt. (“Những món đồ chơi“)
8. Tại sao con người lại không thể sống hòa hợp và không cần chỉ trích lẫn nhau?… Mỗi cá nhân có cách sống riêng của mình. Sao ta không thể học cách tôn trọng lối sống của người khác? Một người nỗ lực quên mình để sống một cách đường hoàng và đích đáng, mà không tổn hại đến bất kỳ ai, thế nhưng, lại bị kẻ khác bới móc, gây sự và cố xô ngã xuống. Đó là điều đáng điên tiết nhất. (“Urashima-san“)
9. Tôi ghét phải nghĩ đến việc trở nên già và xấu xí, bạn cũng biết đó. Tôi không sợ chết lắm, nhưng sự tàn phá bởi tuổi tác, thì không hợp với nguyên tắc thẩm mỹ của tôi. (“Urashima-san“)
10. Tất cả những nỗi khổ đau mà tôi phải trải qua đều do chính sự ngu xuẩn của tôi gây nên. (“Vợ gã Villon”)
Cuộc sống vẫn tiếp diễn: Một người đàn ông đang thả đèn trên dòng nước ở Hiroshima để đánh dấu ngày tưởng niệm vụ ném bom thành phố này lần thứ 75. | KYODO
Bởi MICHAEL HOFFMAN
15/8/2020
Cách hôm nay 75 năm về trước — Ngày 16/8/1945, một ngày Thứ Năm — nước Nhật đã cận kề bên cái chết.
Chiến tranh đã qua đi. Giờ còn gì nữa?
Sự hỗn loạn, cảnh hoang tàn, chết lặng, tuyệt vọng. Thực tế rất quen thuộc. Hình ảnh được mô tả thì đầy rẫy. Đây là một trong số đó, được chọn khá ngẫu nhiên. Đó là từ một truyện ngắn có tựa đề “Kẻ ngốc” (1946) bởi Sakaguchi Ango (1906-55). Nó mô tả những ngày cuối cùng của cuộc chiến:
“Chiến tranh — sức mạnh hủy diệt to lớn này, mà trong đó, tất cả mọi người đều bị phán quyết một cách công bằng đến không tưởng, trong đó, cả nước Nhật trở thành một mảnh đất hoang tàn, vùi lấp trong đá sỏi và con người thì ngã gục như những tượng đất — thật xót xa làm sao, ôi quả là một tình yêu khổng lồ đại diện cho sự hư vô! Izawa cảm thấy nỗi khát khao của mình là được trầm miên trong vòng tay của vị thần hủy diệt.”
Có những lúc, lịch sử thật khiến ta khó mà chịu nổi. Nó vô nhân đạo. Sự bạo lực của nó là vô tận, sức mạnh của nó là bất khả kháng. Nó nghiền nát ta thành bụi cát. Điều kỳ diệu đó là ta không chấp nhận ngã quỵ và tan vỡ. Mờ mịt, câm lặng, tả tơi và méo mó, ta vẫn vấp váp bước lên, cũng chẳng biết sẽ đi về đâu. Izawa, nhân vật chính của Sakaguchi, cũng chẳng buồn quan tâm nữa. Tuy nhiên, anh vẫn cứ thế chập chững bước tiếp.
Ý chí sống còn quả là một điều khiến người ta phải tò mò. Nó mạnh mẽ nhất khi tất cả mọi thứ dường như đều đang chống lại nó. Và tự nó đã biểu hiện ra như thế nào? “Những tiếng còi báo động rít lên cảnh báo. Theo bản năng, Izawa biết rằng ngày tàn của khu phố anh sống đã đến.” Đột nhiên, “anh, vì một lý do nào đó, cảm thấy muốn đánh răng và rửa mặt.”
Sao một người lại có thể ngày qua ngày sống một cách tầm thường, vụn vặt, ngu xuẩn và cứng đầu như thế — thật con người — giữa lúc Lịch sử đang điên cuồng lao đến và phà lửa xuống anh ta? Ừ thì, anh ta đúng là dám đấy — và chính sự táo bạo đó, chứ không phải những điều vặt vãnh, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.
Hàng nghìn năm qua, chiến tranh đã vắt kiệt sinh lực của chúng ta, của những thành phố, những nền văn minh mà ta có — tuy thế, mà không thể hủy diệt được chúng ta. Chúng ta sống sót và ngạc nhiên trước khả năng sinh tồn của mình — chỉ để quay về và lặp lại mọi thứ một lần nữa; lịch sử tự mình lặp lại. Thế chiến II kinh khủng và độc nhất với sức mạnh hủy diệt của mình, thì Trận Sekigahara vào thời đại của nó — năm 1600 cũng như thế.
Đây là trận đánh quyết định trong cuộc chiến trường kỳ nhằm thống nhất Nhật Bản. Đại bác, nhập từ châu Âu, lần đầu tiên được sử dụng ồ ạt trên chiến trường Nhật Bản. Một người phụ nữ tên O-An, người qua đời ở độ tuổi 80 vào giữa những năm 1661 và 1673, đã để lại một ghi chép về thời chiến loạn khi hồi ức về thời thơ ấu của mình:
“Khi họ nã những khẩu đại bác đó, nó thật khủng khiếp; những tháp canh (của tòa thành) sẽ lắc lư và run rẩy, và ngay cả mặt đất cũng dường như có thể bị xé toạc ra.” Bà ấy gần như có thể đang miêu tả một vụ ném bom nguyên tử. “Ban đầu, tôi vô cùng khiếp đảm và sợ hãi đến độ chết lặng đi. Nhưng sau một hồi, nó chẳng hề khiến tôi bận tâm chút nào nữa.”
“Hai người bọn họ” — Izawa và người phụ nữ “ngốc” trong câu chuyện của Sakaguchi — “lao qua biển lửa dữ dội.” Con đường “đã không còn là một con đường nữa mà chỉ là một dòng lũ người, hành lý và những tiếng la hét …” Họ dừng lại nghỉ ngơi trên một cánh đồng. Người phụ nữ ngủ thiếp đi, để lại Izawa trằn trọc ngẫm nghĩ: “Người Mỹ sẽ đổ bộ xuống đây, và sẽ có đủ mọi thứ bị hủy diệt cả trên trời lẫn dưới đất; và cái tình yêu khổng lồ được mở rộng ra bởi sức tàn phá của chiến tranh sẽ đưa ra phán quyết vô tư lên tất cả. Cũng chẳng còn gì cần thiết nữa, kể cả tư duy.”
Thế nhưng, “cậu ấy tự hỏi rằng, liệu tàu điện và tàu hỏa có chạy không…. Vì hôm đó là một buổi sáng vô cùng lạnh giá.”
Đó là tất cả những gì mà ta có thể biết về Izawa. Liệu cậu ấy có sống sót, lao đầu vào công cuộc tái thiết Nhật Bản và gặt hái những lợi ích kinh tế? Có lẽ, cậu ấy trở thành một nghệ sĩ — cậu ấy đã thiên về hướng này. Cậu ấy 27 tuổi khi chiến tranh kết thúc. Có lẽ, vẫn còn sống đến hôm nay; và trở thành một cụ ông 102 tuổi — một độ tuổi ít ai có thể tưởng tượng vào thời điểm đó, nhưng cũng gần như là một chuyện bình thường ngày nay.
Một người phụ nữ tên Ryo sẽ 100 tuổi năm nay. Bà ấy cũng là một nhân vật giả tưởng, có mặt trong truyện ngắn “Shitamachi” (“Phố thị”), xuất bản năm 1948, của nữ tác giả Hayashi Fumiko (1904-51).
Tiếng bom rơi giờ đã lặng đi, sự tàn phá cũng đã chấm dứt. Tàn tích ở khắp nơi là sự nhắc nhở về cuộc chiến đã qua, nhưng tương lai đang vẫy gọi, dù khá ngập ngừng, và những người như cô Ryo, dù có bàng hoàng, kiệt quệ đến đâu bởi cuộc chiến vẫn phải tiếp tục tiến về phía trước. Cô ấy phải nuôi một cậu con trai 7 tuổi. Chồng cô, một tù binh, đang bị giam giữ ở Siberia. Cô ấy đến từ vùng quê, ở nhờ chỗ của một người bạn, tại Tokyo, nơi bị tàn phá bởi bom đạn. Cô ấy ghé qua từng nhà bán trà dạo.
Một lần, cô gõ cửa, và cánh cửa được mở ra bởi một người đàn ông thân thiện. Vâng, ông ấy sẽ mua trà giúp cô. Ông mời cô vào nhà. Cô làm ấm cơ thể bên lò sưởi nhà ông; họ cùng nhau ăn trưa, và trở thành bạn bè. Ông ấy cũng từng là tù binh ở Siberia, và gần đây mới được hồi hương.
Cô ấy ghé qua lần nữa. Cô dẫn theo cậu con trai của mình. Tình bạn của họ trở nên sâu đậm hơn. Nó đã nảy nở thành tình yêu. Họ như một gia đình. Họ cùng đi xem phim, đi nhà hàng. Có lẽ, đến cùng thì cuộc đời cũng không đến nỗi vô vọng thế. Còn chồng của cô ấy — thì sao? Ừ thì, anh ta đang ở một nơi xa xăm. Anh ta là hình bóng của cuộc chiến, là quá khứ. Còn Ryo thì phải sống ở đây, ngay thời điểm này. Con trai của cô cần một người cha. Và chẳng phải là cô ấy cũng xứng đáng được hưởng một chút hạnh phúc sao? Chẳng phải là cô ấy đã phải khốn khổ đủ rồi ư?
Đúng là cô ấy rất xứng đáng, và cô ấy cũng chịu khổ đủ nhiều rồi — nhưng điều đó sẽ không xảy ra. Người đàn ông đột ngột qua đời. Thật điên rồ — khi đã sống sót qua cuộc tấn công kinh khủng và tồi tệ nhất của lịch sử với nhân loại, chỉ để chết đi trong một vụ tai nạn giao thông thường ngày và quá đỗi vụn vặt.
Cô ấy có thể làm gì nữa đây? Nếu chiến tranh có dạy người ta bài học gì đó, thì đó chính là khả năng tự phục hồi. Cô ấy vẫn tiếp tục rao hàng như thường lệ: “Trà đây! Ai muốn uống trà không?”
Một người phụ nữ mời cô vào nhà. “Trong một gian phòng nhỏ, bốn cô thợ may đang ngồi trên sàn nhà bên một bếp lò dầu hỏa, may vá một chồng áo sơ mi và tất. Họ là những người phụ nữ như mình, Ryo nghĩ, khi cô quan sát những mũi kim bận rộn của họ cứ nhấp nhô trên tấm vải. Một cảm giác ấm áp bao phủ lấy cả người cô.”
Chào mọi người! Tuần này mình dịch một bài nghiên cứu của Giáo sư Watabe Yoshinori về vẻ đẹp trong văn chương của Dazai. Vì là bài nghiên cứu nên có những đoạn mình chưa chắc dịch đúng, mọi người có thể xem bản tiếng Anh để hiểu chính xác hơn nhé, cảm ơn mọi người nhiều! (Mình có để link bài gốc ở cuối bài).
Chúc cả nhà cuối tuần vui vẻ!
Watabe Yoshinori
Giáo sư Văn học hiện đại, Khoa Văn chương, Đại học Chuo
Tâm thái cơ bản của Dazai – người tác giả
Tâm thái cơ bản của Dazai – người tác giả đó là trở thành một nhà văn như một “nhạc công đường phố” (Kamome (Chim hải âu) và Zenzo wo Omou (Nghĩ về Zenzo)), người mang đến cho những khách qua đường, các độc giả của mình, cơ hội tận hưởng niềm hạnh phúc của một tâm hồn khiêm tốn như “món quà của một bông hoa bồ công anh duy nhất” (Hazakura to Mateki (Tiếng sáo mùa anh đào trổ lá)).
<Vua của Trái Tim>
Bảo tàng Dazai, ngôi nhà nơi ông chào đời: Shayokan (Ảnh chụp bởi Watabe Yoshinori)
Dazai chào đời trong gia đình giàu có hàng thứ tư ở Aomori, Dazai, người chưa một lần cảm nhận được hạnh phúc chân thực trong khi được nuôi dưỡng trong cảnh giàu sang nhung lụa, dần dần bắt đầu nghĩ rằng hạnh phúc chân chính nằm trong trái tim con người thay vì trong sự thỏa mãn, hài lòng về vật chất, và tìm kiếm niềm vui này trong thế giới văn chương.
Trong tác phẩm Kokoro no Oja (Vua của Trái Tim), được xuất bản trên tờ báo Mita của Đại học Keio, ông đã kêu gọi sinh viên của mình hãy trở thành “những vị vua của trái tim” khi nhại lại cụm từ “vua của vùng đất, Keio” trong bài hát cổ động của trường Keio. Thay vì trở thành “vua của vùng đất”, kẻ đạt đến đỉnh cao về tài phú và quyền lực, hãy là “vua của trái tim” người đặt ưu tiên trước nhất cho hạnh phúc nội tại.
Chính với tâm thái này, Dazai đã cho ra đời nhiều tác phẩm quý giá tràn ngập những chi tiết cảm động về lòng tử tế của con người, chẳng hạn như Ougon no Fukei (Phong cảnh hoàng kim), I Can Speak (Tiếng nói nhà văn), Shinju no Kotoba (Những từ của cây xanh mới), và Aruto Haideruberuhi (Heideruberuhi Già).
Sự tử tế trong văn chương của Dazai
Dazai đã nói trong tiểu thuyết Tsugaru rằng “những chủ đề chính” của ông là “chủ đề” có tên gọi “tình yêu”, và đó là sự nghiên cứu đào sâu về “trái tim con người và sự tiếp xúc với trái tim con người”. Vậy sự tử tế trong văn chương của Dazai đến từ đâu? Nó đến từ “sự nhận thức về tội lỗi” sâu trong gốc rễ các tác phẩm văn học của Dazai.
Nonaka, một nhân vật trong tác phẩm thời hậu chiến của Dazai, Haru no Kareha (Lá khô của mùa Xuân), đã nói những điều này.
Kinh Thánh đã dạy rằng, “người nào càng ít khoan thứ, thì càng ít yêu thương.” Bạn hiểu điều này nghĩa là gì không? Chỉ những ai trơ tráo tin rằng mình chẳng bao giờ phạm phải sai lầm trong đời mới là những kẻ nhẫn tâm. Những con người tội lỗi luôn có lòng yêu thương sâu đậm.
Điều này không có nghĩa là ai phạm phải nhiều tội lỗi cũng sẽ trở thành một người giàu lòng yêu thương. Những ai đã sai lầm và nhận thức sâu sắc lỗi lầm của mình sẽ trở thành những con người khiêm tốn, tử tế và có lòng yêu thương sâu đậm.
Dazai thấy hổ thẹn vì là thành viên của một gia tộc tư sản. Dù có đính hôn với một người phụ nữ, ông đã liên quan vào vụ tự tử của một phụ nữ khác mà ông có tình cảm (tháng 11/ 1930), và trong lúc nhập học đại học, ông cũng liên quan đến một phong trào cánh tả trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng đã rời hội sau khi phản bội một vài người bạn của mình (Hè 1932). Trong những trường hợp này, Dazai đã phản bội và tổn thương nhiều người và làm chất chồng thêm tội lỗi của mình. Nhưng sâu bên trong, Dazai nhận thức sâu sắc rằng mình là một người xấu và tội nghiệt vô cùng. Đó là cội nguồn của sự tử tế của Dazai và văn chương của ông.
Nhiều tác phẩm văn chương thấm đẫm “tình yêu” và “lòng tử tế” đã được ông sáng tác trong giai đoạn giữa của sự nghiệp, từ 1939 đến 1945.
Núi Phú Sĩ nhìn từ Đèo Misaka, bối cảnh của câu chuyện Fugaku Hyakkei (Một trăm cảnh núi Phú Sĩ) (Hình chụp bởi Watabe Yoshinori)
Trong giai đoạn này, Dazai đã lặp đi lặp lại trong các tác phẩm của mình, những từ “mộc mạc” và “đơn giản” (Ai to Bi ni Tsuite (Cho Tình yêu và Cái đẹp), Kashoku (Hôn nhân)) ,”sự chân thật” (Tousen no Hi (Ngày bầu cử), Shoujiki No-to (Lời ghi chép chân thật)), “Tôi muốn trở nên tự nhiên. Tôi muốn trở nên chân thành.” (Joseito (Nữ sinh)), và “những gì đơn giản và tự nhiên thì súc tích và rõ ràng.” (Fugaku Hyakkei (Một trăm cảnh núi Phú Sĩ)). Đây là những điều mà Dazai đã ước ao trong khoảng thời gian này.
Những ý định này của Dazai đã được tổng kết trong thông điệp sau, được cho là lời nhắn nhủ của Dazai đến môn đệ của mình, Katsura Hidezumi, vào năm 1942.
Basho từng nói đến wabi-sabi (sự vô thường) và tâm linh. Cuối cùng, ông ấy nhắc đến “sự nhẹ nhàng”. Phương hướng của nghệ thuật mới đi theo và nằm trong sự nhẹ nhàng này. Trong Kendo, nó giống như việc ta ra một đòn nhanh gọn và chính xác vào cẳng tay đối phương mà không cần dùng sức. Chính là cảm giác đó, nỗi thống khổ chìm xuống đáy và ta thấy thật sáng sủa. (lược bỏ) Trong âm nhạc, có lẽ đó là như Mozart. (Những lời nói của Dazai Osamu, Katsura Hidezumi, Hakone no Dazai (Dazai ở Hakone) )
Tư tưởng về “sự nhẹ nhàng”, vốn được nuôi dưỡng từ năm 1939 đến 1945, đã nảy nở và đơm hoa kết quả thành tác phẩm thời hậu chiến Pandora no Hako (Chiếc hộp Pandora). Những thanh niên, nhân vật chính trong câu chuyện, khi đối diện với thời đại mới sau chiến tranh, đã nói những điều sau.
Một thời đại mới đã đến thật rồi. Nó nhẹ nhàng và thanh thoát như một chiếc áo choàng lông vũ vậy, và hơn nữa, cũng trong trẻo (chú thích: trong vắt như pha lê và mát lạnh) như một dòng suối chảy qua lớp cát trắng.
Những bài thơ nhẹ nhàng và trong sáng là, (lược bớt) như âm nhạc của Mozart, chẳng hạn như, một tác phẩm nghệ thuật với sự quý phái và sáng sủa. Đó là những điều mà ta đang khao khát trong thời khắc này.
“Sự nhẹ nhàng” này khác với sự không chân thật. Nếu bạn không loại trừ khát khao và cuộc đời, bạn sẽ không thể nào thấu hiểu được tâm trí. (lược bớt) Sự yên bình nằm trong những ai đã đánh mất hết thảy, những ai đã vứt bỏ hết thảy, đó chính là sự “nhẹ nhàng”. (Pandora no Hako (Chiếc hộp Pandora))
Trong tác phẩm “Chiếc hộp Pandora”, Dazai đã tuyên bố rằng “sự bình yên nằm ở những ai đã đã đánh mất hết thảy, những ai đã vứt bỏ hết thảy”, “từ bỏ mọi thứ và vứt hết chúng đi” và “chân thật”, “đơn giản”, tâm trí “hờ hững và trong sạch” và tâm hồn “nhẹ nhàng” chính là hình mẫu lý tưởng.
Hình ảnh Dazai lành mạnh và tươi sáng cùng văn chương trong giai đoạn này của ông sẽ khiến nhiều người cảm thấy khác biệt so với hình tượng Dazai mà họ quen thuộc. Nhưng gần ba phần tư thời gian trong suốt 16 năm cầm bút của mình, Dazai đã sáng tác rất nhiều câu chuyện sáng sủa, với hoài bão lành mạnh.
Một quan điểm về Văn chương của Dazai (Văn chương là gì?)
Đài tưởng niệm Văn học của Dazai ở Kanita: “Ông ấy thích làm cho người ta hạnh phúc hơn tất cả mọi thứ trên đời!!” (Hình chụp bởi Watabe Yoshinori)
Như đoạn sau thể hiện, với Dazai Osamu, văn chương, về cơ bản, là để cho người đọc thưởng thức, một thú tiêu khiển, một thứ gì đó dễ chịu, và có thể mang lại niềm vui cho tâm hồn. “Nghệ thuật của tôi chẳng khác gì so với vẻ đẹp của một món đồ chơi” (Mono no Omou Ashi〔Sono Ichi〕 (Cỏ tranh ngẫm nghĩ (Phần 1)), “tử tế, u buồn, lạ lùng và cao quý, bạn cần trở thành thêm như thế nào nữa đây?” (Bannen ni Tsuite (Vãn niên)), “Người ta nên làm gì với chiếc hộp xinh đẹp, được trang trí bằng giấy hoa đủ kiểu này đây? Không gì cả. Chẳng phải nó đã rất đẹp khi là chính nó sao?” (Hashiranu Meiba (Một con ngựa tốt mà không chạy)), “Vẻ đẹp của nghệ thuật, khi tất cả mọi thứ đều đã đâu vào đấy cả rồi, chính là làm đẹp cho con người.”(Gyakko (Sự thoái lui)), “Ông ấy thích làm cho người ta hạnh phúc hơn tất cả mọi thứ trên đời!” (Seigi to Bisyou (Chính nghĩa và Nụ cười)), “Văn học Nhật Bản (lược bỏ) còn lâu mới trở nên tùy hứng. (lược bỏ) Nó không biết cách tận hưởng sự vu vơ. Nó thích việc nghiêm túc một cách mù quáng. Nó không cảm nhận được vẻ đẹp của sự vô nghĩa.”(Koten Ryuto-dabi (Sự thoái trào của trường phái Cổ điển)), và “Điều quan trọng nhất trong văn chương là ‘tình yêu’.”(Nyoze Gamon (Như thị ngã văn)).
Sự khó hiểu (Phong cách Dandyism – tính thích phô trương)・Sự suy tàn (Trụy lạc)
Mặc dù đã sáng tác nhiều tác phẩm lành mạnh, tươi sáng và thú vị, ông ấy đã không thể lột tả những hình ảnh khó hiểu, suy đồi và không lành mạnh qua nhũng tác phẩm này bởi phong cách Dandy trong giai đoạn đầu sáng tác của mình và một hình ảnh mạnh mẽ về sự trụy lạc và sự độc đáo không theo thói thường trong những năm sau này.
Trong những năm đầu sáng tác của Dazai (1933-1937), đặc biệt là từ năm 1935 đến đầu năm 1937, ông đã vận dụng một thủ pháp với tên gọi Dandyism và thể hiện một phong cách văn học vô cùng khó theo dõi. Chịu ảnh hưởng bởi phong cách Dandyism của Baudelaire, Dazai đã “trang trí” lối sống và sáng tác của mình quá mức, như thể người ta đang chưng diện vậy. Ông cho rằng trở nên hoa mỹ và sang trọng chính là cách để một nhà văn thể hiện “tình yêu” với độc giả của mình.
Ông phô bày một thế giới có độ giả tạo cao khi nói rằng “Nếu đó không phải là một tác phẩm nghệ thuật giàu trí tuệ và bị chia nhỏ thành nhiều mảnh, thì chẳng thú vị chút nào.” (Dasu Gemaine (Das Gemeine)), “vẻ đẹp nhân tạo” (Mono no Omou Ashi〔Sono Ichi〕 (Cỏ tranh ngẫm nghĩ (Phần 1)), và “đỉnh điểm do nhân tạo” (Mùa xuân giả). Qua ấn tượng đó về nỗ lực của một nhà văn, ông đã cố gắng thể hiện sự chân thành của một tác giả.
Núi Iwaki nhìn từ quê nhà Kanagi của Dazai (Hình chụp bởi Watabe Yoshinori)
Biểu tượng của phong cách Dandy này là những câu từ “Dù cho chúng ta nhất định phải chết đi, hãy cứ dùng những từ ngữ ngọt ngào với lòng chân thành giả tạo!” (Mono no Omou Ashi〔Sono Ichi〕 (Cỏ tranh ngẫm nghĩ (Phần 1)). Khổng Tử cho những lời ngọt ngào mà không chân thành này là biểu hiện của sự thiếu đức hạnh, nhưng Dazai lại cho đó là “tình yêu”. Ông thể hiện tình yêu của một nhà văn với độc giả của mình qua những tác phẩm và ngôn ngữ tài tình, khéo léo trong khi sống một cuộc đời hào nhoáng. Ông cố tình sáng tác với lối viết khó hiểu, khiến người đọc bối rối và đóng vai nhân vật phản diện.
Bởi việc vận dụng phong cách khó khăn này, ngôn từ đầy sáng tạo của ông đã khiến người khác hiểu sai và ông đã trượt Giải Akutagawa lần thứ nhất. Sau đó, ông nghiện Pavinal, và sau khi được trưởng bối và các thành viên gia đình cả bạn mình tiếp nhận, ông đã phải nhập viện điều trị.
Ngay cả trong những tác phẩm mà chủ nghĩa Dandyism khó hiểu được áp dụng thoải mái, tác giả vẫn cố tình sáng tác theo kiểu khó đọc, dùng những từ ngữ và lối diễn đạt độc đáo. Đó là lý do khiến tôi cho rằng Dazai đang cố thể hiện tính cá nhân, sự lạ thường và chân thành, và đọc hay đến đáng ngạc nhiên. Bạn có thể tận hưởng thế giới ảo diệu của những ngôn từ lóng lánh.
Tinh thần mạnh mẽ phản kháng lại thường quy trong giai đoạn hậu chiến (từ năm 1946 đến tháng Sáu, 1948)
Khi Dazai trở lại Tokyo sau khi tản cư, ông đã không thể dằn lòng nổi khi thấy cảnh những nhà trí thức từ bỏ chính phong trào cánh tả mà mình theo đuổi và cộng tác với những chính sách khác với chính sách thời chiến của họ, nhảy ngay theo làn sóng dân chủ thời hậu chiến mà không chút nào do dự. Họ đã không hề thể hiện sự ăn năn hối hận hay cảm thấy tội lỗi khi thực hiện hành vi đáng xấu hổ là thay đổi chủ kiến của mình và tuân theo chính sách của quốc gia. Bởi việc nhận ra những sai lầm của chính mình, chắc chắn rằng ông ấy là một người tốt hơn nhóm người đó. Tinh thần phản kháng mạnh mẽ với thường quy mà ông đã giữ vững trong vòng một năm rưỡi trong giai đoạn sau này của cuộc đời mình đã được Dazai xây dựng tự sự tự tin như thế. Ông mạnh mẽ chỉ trích những kẻ hợm hĩnh coi thường người khác về mặt văn hóa trên thế giới. Nhưng, nghịch lý thay, ông lại sử dụng một hình thức của sự đọa lạc để phê phán họ và buộc tội. Hình tượng này đã để lại ấn tượng vô cùng sâu sắc lên các độc giả của ông và dẫn đến việc tạo nên hình ảnh của Dazai mà công chúng thường thấy.
Tôi muốn các bạn biết đến không chỉ là một phần về Dazai mà còn là cái nhìn tổng thể về Dazai. Trong những năm tháng tuổi trẻ, ông vận dụng lối sáng tác theo phong cách Dandy và khá khó để theo dõi, nhưng ông đã tô vẽ nên một thế giới với vẻ đẹp nhân tạo độc đáo và riêng biệt. Thời trung niên, nhờ nhận ra tội lỗi của mình, ông trở nên khiêm tốn và tử tế, viết về một thế giới đầy tình yêu thương của con người với giọng văn sáng sủa, lành mạnh và đầy ắp tiếng cười. Tôi mong rằng bạn có thể chọn ra một trong những tác phẩm của Dazai với hương vị tươi sáng đó.
Kết luận
Thế kỷ XX là một thế kỷ hiến dâng trọn vẹn cho kỹ nghệ. Thế kỷ XXI sẽ là một thế kỷ hướng đến việc giành lại hạnh phúc trong trái tim con người, vốn đã bị lãng quên bởi thế giới kỹ nghệ. Dazai, người mang đến cho độc giả của mình sự an ủi nhỏ bé như thể “một đó hoa bồ công anh”, người ước ao được trở thành một nghệ sĩ như một “nhạc công đường phố”, người trân trọng niềm hạnh phúc trong tâm hồn hơn hẳn sự hạnh phúc về mặt vật chất, người là vị “Vua của Trái tim”, đã giành trước được thời đại của trái tim hạnh phúc trong Thế kỷ XX.
Watabe Yoshinori
Giáo sư Văn học hiện đại, Khoa Văn chương, Đại học Chuo
Sinh ra ở Yotsuya thuộc Shinjuku, Tokyo vào năm 1940. Lớn lên ở Machida. Theo học trường Tiểu học Machida và trường Tiểu học Đệ Nhất Nerima Kaishin trước khi học lên Ban Văn học Nhật Bản thuộc Khoa Văn chương, Đại học Tokyo từ trường Đại học Giáo dục trường Trung học Cơ sở và Phổ thông. Sau khi rời trường đại học, ông làm việc ở trường Trung học Cơ sở và Phổ thông Musashi và Đại học Rissho trước khi đảm nhiệm chức vụ hiện tại ở Khoa Văn chương, Đại học Chuo vào năm 1976. Trong thời gian này, ông cũng là giảng viên ở trường Cao đẳng cộng đồng Nữ sinh Aoyama Gakuin, trường Cao đẳng cộng đồng Nữ sinh Gakushuin, và Đại học Thánh Tâm, Tokyo. Ông cũng có hứng thú và đang tiến hành nghiên cứu về văn học hiện đại và các nhà thơ hiện đại như Kajii Motojiro, Serizawa Kojiro, Hagiwara Sakutaro, và đặc biệt là Dazai Osamu và Miyazawa Kenji. Ông Watabe thích chụp ảnh và ô tô, cũng như du lịch khắp Nhật Bản, tìm kiếm những nét đặc sắc của thiên nhiên có liên quan đến các tác giả hiện đại.