~Dịch: NHẬT KÝ KHỔ ĐAU (悶悶日記) – DAZAI OSAMU~

Ngày ________ tháng _____

Ai đó bỏ một con rắn còn sống vào hộp thư. Phẫn nộ. Ai làm trò này hẳn là rất khóa trá khi cười nhạo những nhà văn thất bại, phải ra kiểm hộp thư tận hai mươi lần một ngày. Bắt đầu cảm thấy thật tệ và nằm luôn trên giường suốt cả ngày. 

Ngày ________ tháng _____

 “Đừng đem nỗi khổ đau của mình ra bán” — thư của một người bạn.

Ngày ________tháng _____

Sức khỏe tệ quá. Khạc đờm ra máu. Báo cho người nhà biết, nhưng có vẻ như không ai tin mình.  

Cây đào đang nở hoa ở góc vườn. 

Ngày ________tháng _____

Tiền thừa kế từ cha có khoảng 1.5 triệu yên. Chẳng biết giờ còn bao nhiêu nữa. Dù gì thì cũng đã bị truất quyền thừa kế từ tám năm trước rồi. Chỉ xoay xở sống được tới chừng này nhờ anh trai hảo tâm giúp đỡ. Nhưng từ giờ trở đi phải làm sao đây? Còn chưa một lần dám mơ tới chuyện tự kiếm tiền sinh hoạt. Cứ đà này, chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài chết đi thôi. Ngày hôm nay, kẻ tệ hại này, chính là bài học cho bạn đó, một nhà văn tồi với những tác phẩm dở tệ. 

Dan Kazuo đến chơi. Mượn cậu ấy 40 yên.

Ngày ________tháng _____

Chỉnh sửa bản in thử của tập truyện ngắn Vãn Niên. Chợt tự hỏi liệu đây có khi nào là tác phẩm cuối của mình không. Chắc chắn là phải rồi, không nghi ngờ gì nữa.

Ngày ________tháng _____

Số người chưa từng nói xấu mình trong năm nay: ba? Ít hơn à? Chắc chắn không rồi. 

Ngày ________tháng_____

Thư của chị gái.

 “Chị vừa gửi em 20 yên, nên em đến nhận tiền đi nhé. Em đẩy chị vào một tình huống khó xử khi cứ xin tiền mãi như thế. Chị cũng không nói cho mẹ biết được, nên lúc nào cũng là tiền riêng của chị, và điều này càng làm mọi chuyện khó khăn hơn.  

Mẹ cũng không có nhiều tiền đâu… Em phải sống tiết kiệm hơn và đừng tiêu xài hoang phí quá.

Tòa soạn hẳn là có trả em chút đỉnh tiền mà phải không? Em đừng mượn tiền của người khác nữa và sống thắt lưng buộc bụng nhé. Chăm sóc cho bản thân mình tốt hơn. Nhớ chú ý sức khỏe, và đừng ra ngoài với bạn bè nhiều quá. Mọi người cũng rất mệt mỏi khi phải lo cho em hoài…”

Ngày ________tháng _____

Uể oải suốt cả ngày. Bắt đầu vật lộn với chứng mất ngủ. Hai đêm rồi. Nếu đêm nay không ngủ được nữa thì ba đêm.

Ngày ________tháng _____

Sáng sớm đi gặp bác sĩ. Chợt nhớ bài thơ của Tanaka:

Nếu tôi quên mất

hành trình của mình, than khóc, suốt chặng đường này 

thì ai sẽ biết cho đây?

Ép bác sĩ phải kê cho tôi morphine.

Ngủ dậy lúc đầu giờ chiều. Cảm thấy lo âu và buồn bã khi nhìn những chiếc lá non. Quyết định rằng mình phải mạnh khỏe hơn. 

Ngày ________tháng _____

Những nỗi tủi hổ khiến tôi phẫn hận nhất đã bị gia đình nhắc lại mà không hề ngần ngại. Nhảy dựng lên. Xỏ đôi guốc geta. 

Ôi gia đình! Trong chốc lát, đứng sững lại như trời trồng. Đá đổ lò than. Đá bay chậu than. Vào căn phòng chỉ rộng 4 chiếu rưỡi và đá ấm nước văng tới cánh cửa trượt. Lớp kính trên cửa kêu lạch cạch. Đá cái bàn trà lật úp. Nước tương bắn lên tường. Ly tách và đĩa lót. Đồ để trút giận mà thôi. Không thể sống tiếp nếu không đập phá hết những thứ này. Không chút hối hận. 

Ngày ________tháng _____

 “Một mét bảy và đầu tóc thì bù xù.” “Chết trong tủi nhục.” Nhớ lại những từ mình viết lúc trước, tự cười thầm. 

Ngày ________tháng _____

Yamagishi Gaishi đến chơi. Bốn bề thọ địch, mình nói. Ồ, không, chỉ hai phía thôi, thật đấy, ảnh đáp. Mình cười thật đẹp trai. 

Ngày ________tháng _____

Khi không lên tiếng thì có vẻ ổn. Vô luận như thế nào, mình chỉ mong họ lắng nghe điều này. Không, đã đủ lắm rồi. Nhưng — …

Tranh cãi với người nhà chỉ vì 1.5 yên trong suốt ba tiếng đồng hồ đêm qua. Thật xin lỗi.

Ngày ________tháng _____

Không thể đi vệ sinh một mình vào ban đêm. Có một đứa bé trai nhỏ nhắn, mảnh khảnh khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, mặc bộ yukata trắng cứ lẽo đẽo sau lưng. Mấy ngày nay, mỗi việc ngoái đầu lại thôi cũng là một chuyện sống còn với mình. Chắc chắn là có một đứa nhỏ ở đó mà. Yamagishi Gaishi bảo là do tổ tiên mình khoảng năm hay sáu đời trước đã làm “một chuyện vô cùng độc ác và tàn bạo”. Có thể thế lắm.

Ngày ________tháng _____

Hoàn thành tiểu thuyết tiếp theo rồi. Điều này đã luôn làm mình hạnh phúc như thế sao? Đọc qua lại một lần nữa. Có vẻ hay. Nhắn cho hai, ba người bạn biết. Giờ có thể trả tiền cho mọi người rồi. Tựa đề là “Con khỉ trắng điên cuồng”.

(Dịch từ bản tiếng Anh vốn được đăng ở 2 links này: http://no-sword.jp/bassharp/2005/04/angst-journal-dazai-osamu.htmlhttp://guillaumemorissette.tumblr.com/post/93253903311 nhưng giờ cả 2 links đều down rồi. Mọi người có thể xem bản gốc tiếng Nhật ở đây nhé: https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/1589_18111.html)

P/S: Nếu thời đó có Twitter…. =)))))

Bonus mọi người hình chụp quyển tập của sensei: =))))

~ Trích dẫn trong một số tác phẩm của Dazai (Phần 1) ~

1. Rồi, độc giả ơi, ta sẽ gặp lại nhau sau nhé, nếu mình còn sống. Chúng ta hãy giữ vững tinh thần. Đừng tuyệt vọng. Tạm biệt nhé. (Tsugaru)

2. Người trưởng thành là những kẻ cô đơn. Dù cho chúng ta có yêu nhau đi, ta vẫn phải cẩn thận không được thể hiện ra ở chốn công cộng. Và tại sao chúng ta lại phải thận trọng như thế chứ? Câu trả lời rất đơn giản: bởi vì con người rất hay bị phản bội và nhục nhã công khai. Việc phát hiện ra rằng mình không thể tin tưởng con người là bài học đầu tiên mà những người trẻ tuổi học được khi trưởng thành. Người trưởng thành là những thanh thiếu niên đã bị đời phản bội. (Tsugaru

3. Đã vượt qua cả một chặng đường dài để đến đây thăm bà ấy, đã tìm được nơi bà ấy sống ngay tức thì, nhưng lại phải quay trở về nhà mà không thể gặp được bà ấy – có lẽ đây chính là kết cục thích đáng cho cuộc đời hư hỏng của tôi suốt những năm qua. Những kế hoạch mà tôi đã sắp xếp đầy hào hứng và say mê, cuối cùng luôn rơi vào cảnh rối ren, như bây giờ. Tôi đúng là đã sinh ra dưới một vì sao xúi quẩy. (Tsugaru)

4. Tôi không thể giải thích điều này một cách rõ ràng, nhưng, tôi có một nỗi ám ảnh rằng mình phải sống một cuộc đời như một – ừ thì – một nhà văn mẫu mực, có thể nói như vậy. Nhưng cái tính tự cao tự đại ngu xuẩn đã biến tôi thành một kẻ hợm hĩnh tầm thường, nên tôi sẽ chẳng bao giờ làm được đâu. (Tsugaru)

5.

Nhà Vua: Hamlet, có vẻ như dạo gần đây con không được vui. Con có muốn sang Pháp chơi không?

Hamlet: Tôi sao? Ông đùa đấy à? Tôi sắp xuống Địa Ngục rồi. (Tân Hamlet)

6. Đó là một buổi chiều vào giữa tháng Chín. Bộ yukata trắng của tôi đã quá mùa, và tôi thấy mình như đang phát sáng lòe lòe lên trong đêm, “nổi” một cách kinh khủng, và điều đó đã khiến tôi suy sụp, buồn đau đến độ chẳng còn muốn sống trên đời. (Không đùa đâu)

7. Tôi là một trường hợp hết hy vọng rồi, không thể nào hòa nhập được. Mặc kệ tôi đi, tôi nghĩ thầm, lòng đầy cay đắng, mình chỉ là một kẻ kỳ quặc mà thôi. (Mỹ thiếu nữ)

8. Ta tin rằng mình hiểu cuộc đời, nhưng có những lúc, ta không hề hay biết rằng mình đã đánh mất điều gì đó vô cùng quan trọng. (Tân Hamlet)

9. Tôi chưa từng hay biết rằng quá nhiều điều đau khổ lại có thể lần lượt nối đuôi nhau xảy ra. Nỗi đau lại sinh ra thêm nỗi đau, và những tiếng thở dài lại chỉ mang đến thêm những tiếng thở dài khác từ tận đáy lòng. Tự sát. Đó là lối thoát duy nhất. Đúng vậy, chính là con đường duy nhất…. (Tân Hamlet)

10. Tôi là một cánh hoa sắp rụng xuống. Chỉ một làn gió nhẹ nhất thoảng qua cũng khiến tôi run rẩy và sợ hãi; chỉ một lời công kích không đâu cũng đủ khiến tôi quằn quại khổ đau và tính đến chuyện chết đi.  (Hồi ức)

~Dịch: CHỜ ĐỢI (MATSU) – DAZAI OSAMU~

Dazai Osamu Sayings By Osamu Dazai: Nevertheless, I still wait for someone. Who on earth am I waiting for, sitting here

Mỗi ngày, tôi đều ghé đến nhà ga bé nhỏ trên tuyến đường sắt của chính phủ để được gặp một ai đó. Để gặp một người mà tôi không hề biết là ai. Tôi đi chợ mua sắm, và trên đường trở về, vẫn không bao giờ quên ghé lại nhà ga, ngồi xuống băng ghế vắng lặng ở đây, đặt chiếc giỏ đi chợ lên đùi, và lơ đãng nhìn về phía cổng soát vé. Tàu đến rồi tàu đi, những dòng người tuôn ra từ cửa tàu, chen chúc nhau qua cổng soát vé. Với vẻ cau có như nhau, một vài người trình thẻ đi tàu hằng ngày của mình, số khác thì đưa vé tàu của họ; thế rồi tất cả mọi người lại vội vã đi qua, chẳng buồn nhìn ngó xung quanh, đi ngang băng ghế tôi đang ngồi, thẳng đến quảng trường trước nhà ga, và rồi chia nhau đi mọi ngả. Tôi lơ đãng ngồi đó. Một người nào đó bắt chuyện với tôi, và mỉm cười. Thật đáng sợ làm sao! Tôi phải làm gì đây? Tim tôi đập loạn hết cả lên. Chỉ cần nghĩ đến khả năng này, là cả người tôi run lên vì sợ hãi, như thể bị dội hẳn một xô nước lạnh lên lưng và nghẹt thở. Tuy thế, tôi vẫn ngồi đây chờ đợi một người. Tôi đang chờ ai cơ chứ, ngày nào cũng ngồi đây mãi? Người đó là kiểu người gì đây? Có lẽ, điều mà tôi đang chờ đợi, có khi còn chẳng phải là một con người. Tôi ghét loài người. Không, tôi sợ hãi trước họ thì đúng hơn. Khi tôi gặp một ai đó và chào hỏi những câu vô cảm như “Bạn khỏe không?” hay “Trời lạnh nhỉ?”, những câu mà tôi không hề muốn thốt lên chút nào, tôi cứ có một cảm giác vô cùng khó chịu, rằng trên đời này, không có kẻ dối trá nào tệ hại hơn bản thân mình nữa, và thật lòng, tôi muốn chết đi cho xong. Và những người khác nữa, họ cũng e dè tôi quá thể, và cứ cố dùng những ngôn từ lịch thiệp để tỏ ra vô hại và không hề có ý xúc phạm tôi, cũng bởi tính khoa trương và thứ cảm xúc giả tạo của họ. Khi tôi lắng nghe hết thảy những lời nói đó, tôi cảm thấy sự thận trọng một cách tầm thường của họ thật tệ hại làm sao, và cả thế gian này ngày càng trở nên ghê tởm đến không thể chịu nổi. Tôi tự hỏi, có phải “nhân gian”, thứ sinh vật dành cả đời để chào hỏi nhau một cách cứng nhắc và máy móc này, e ngại và thận trọng trước nhau, để rồi trở nên chán ghét lẫn nhau? Tôi ghét phải gặp gỡ mọi người. Và vì thế, tôi không bao giờ dẫn đầu và đến thăm nhà một người bạn nào hay những điều tương tự thế, nếu như không thật sự cần thiết. Tôi thấy dễ chịu nhất là khi ở nhà, chỉ có mẹ và tôi, ngồi yên lặng bên nhau và may vá. Tuy nhiên, sau khi chiến tranh nổ ra, và tình trạng căng thẳng ngày càng leo thang ở khắp nơi, tôi bắt đầu cảm thấy tội lỗi khi ngồi ở nhà một mình, chẳng làm được việc gì ngày này qua ngày khác; tôi cảm thấy khó chịu một cách mơ hồ, và không thể nào thư giãn được nữa. Tôi muốn làm việc cật lực và trở nên hữu ích trực tiếp cho cuộc đời. Tôi đã đánh mất lòng tin vào lối sống của mình từ trước đến nay rồi.

Tôi thấy rằng mình không thể chỉ ngồi yên lặng trong nhà mãi nữa; tuy vậy, sau khi ra ngoài nhìn xung quanh, tôi nhận ra mình chẳng có chỗ nào để đi cả. Vì thế, tôi đi mua sắm và trên đường về, tôi ghé qua nhà ga và ngồi vẩn vơ trên băng ghế lạnh. Cái hy vọng rằng “Có ai đó tình cờ xuất hiện ở đây… !“— nỗi khiếp sợ “Nếu có người xuất hiện thật, trời ơi, mình phải làm gì đây?“— sự xác định như thể buông xuôi, rằng “Chẳng có gì để làm nữa, nếu anh ấy xuất hiện; hãy để tôi trao trọn cuộc đời mình cho con người này; và số phận của tôi sẽ được định đoạt ngay giây phút đó.“— những mơ tưởng vẩn vơ này và còn nhiều ý nghĩ đáng xấu hổ khác nữa cứ quấn vào nhau một cách khác thường trong đầu tôi; tim tôi nghẹn lại với một mớ bòng bong những cảm xúc và tôi gần như nghẹt thở vì đau đớn. Tôi cảm thấy như thể mặt đất vừa nứt ra dưới chân mình, như thể mơ màng chẳng rõ mình đang sống hay chết, như đang nằm mơ giữa ban ngày ban mặt; và dòng người đến rồi lại đi trước cửa nhà ga nữa, dường như, cũng dần nhỏ bé lại và ngày càng xa xôi, cứ như tôi đang nhìn vào đầu bên kia của chiếc kính viễn vọng, và cả thế giới trở nên hoàn toàn câm lặng. Tôi đang đợi chờ cái gì cơ chứ? Có thể là, tôi là một cô gái không đứng đắn chút nào. Có thể, “Chiến tranh đã nổ ra, và vì thế tôi mơ hồ cảm thấy hơi khó chịu; tôi muốn làm việc cật lực và trở nên hữu ích cho cuộc đời“, tất cả chỉ là lời dối trá mà thôi; và sự thật là tôi đang lấy cớ một cách khoa trương trong khi trông chờ một cơ hội để những ước vọng liều lĩnh của mình thành hiện thực. Giờ tôi đang ở ngay đây, ngồi như thế này, với một khuôn mặt lơ đãng, nhưng trong lòng tôi, tôi hoàn toàn nhận rõ được cái mưu đồ tinh quái của mình chẳng khác một ngọn lửa đang bập bùng cháy.

Rốt cuộc tôi đang chờ đợi ai đây? Chẳng có một điều gì rõ ràng; tất cả mọi thứ đều thật mơ hồ. Tuy thế, tôi vẫn cứ chờ đợi. Từ khi chiến tranh bùng nổ, ngày này qua ngày khác, trên đường về sau khi mua sắm xong, lúc nào tôi cũng ghé qua nhà ga, ngồi trên băng ghế này và chờ đợi. Ai đó bước đến bên tôi một mình và mỉm cười với tôi. Đáng sợ quá! Mình phải làm gì đây? Người tôi đang chờ đợi không phải bạn đâu. Ừ thì, mình đang chờ ai đấy nhỉ? Chồng của người ta. Không. Người yêu của họ. Không. Bạn của họ. Không! Tiền. Vớ vẩn. Một linh hồn đã khuất. Dừng ngay đây được rồi!

Đó là một điều yên bình và hiền hòa hơn nhiều, sáng sủa và rực rỡ, tuyệt diệu. Tôi chỉ không biết đó là gì mà thôi. Chẳng hạn, một điều gì đó như mùa xuân. Không … không phải thế. Lá xanh. Tháng Năm. Dòng nước trong vắt chảy qua cánh đồng lúa mì. Cũng chẳng phải nốt. Tôi bất giác thở dài! Dù thế, tôi vẫn tiếp tục chờ đợi. Tôi chờ đợi, lòng đầy hồi hộp và kích động. Người ta lướt qua trước mặt tôi, từng đoàn người như thế. Không phải người này, người kia cũng không phải. Tôi ôm lấy chiếc giỏ đi chợ, run rẩy và chú tâm chờ đợi. Xin người đừng quên tôi. Xin đừng cười chê một cô gái tuổi đôi mươi, ngày nào cũng đến điểm hẹn ở nhà ga để rồi thất vọng trở về; xin hãy nhớ đến tôi và giữ lấy hình bóng tôi trong tim người. Tên của nhà ga bé nhỏ này, tôi sẽ không cho người biết đâu. Mà ngay cả khi tôi không cho người biết, sẽ có một ngày, người cũng bắt gặp tôi thôi. 

(Source: Mình dịch từ bản dịch tiếng Anh của David J. Brudnoy và Shimizu Kazuko, các bạn có thể đọc bản gốc tiếng Nhật ở link này nhé: https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/2317_13904.html)

~Dịch: CHẠNG VẠNG (HAKUMEI) – DAZAI OSAMU~

Dazai và con gái lớn của mình, Sonoko, ở Mitaka, Mùa Hè năm 1944.

Tháng Mười Một năm 1944, chỉ hai tháng sau khi con trai của Dazai, Masaki, chào đời, máy bay B29 ném bom Tokyo lần đầu tiên. Tháng Ba năm 1945, những trận ném bom ngày càng dày đặc, và Dazai gửi gia đình mình đến ở ngôi nhà Ishihara ở Kofu, nơi em gái của Michiko, Ai, đang sống một mình. Vào ngày 2 tháng Tư, ngôi nhà ở Mitaka bị trúng bom. Ngôi nhà không bị tổn hại quá nặng nề nhưng Dazai bị vùi nửa người trong đống đất đá khi bức tường của căn hầm mà ông đang ẩn náu sập xuống. Vài ngày sau đó, ông đến Kofu hội tụ với gia đình mình. Vào lúc rạng sáng ngày 7 tháng Bảy, Kofu đã bị dội bom cháy. 

Khi nhà chúng tôi ở Mitaka, Tokyo, bị phá hủy sau những trận bom, chúng tôi đã dời đến Kofu, quê nhà của vợ tôi. Em gái của cô ấy đang sống một mình trong ngôi nhà của gia đình ở Kofu.

Lúc này là vào đầu tháng Tư năm 1945. Những chiếc máy bay của Quân Đồng minh thường xuyên quần thảo trên bầu trời Kofu nhưng hiếm khi thả bom xuống. Và không khí chiến tranh ở đây cũng không nặng nề như ở Tokyo. Chúng tôi đã có thể nằm ngủ mà không cần dùng đến thiết bị cảnh báo không kích lần đầu tiên sau hàng tháng trời. Lúc đó, tôi 37 tuổi. Vợ tôi 34 tuổi, con gái 5 tuổi, và con trai vừa lên 2, dù đúng ra thì thằng bé chỉ mới chào đời hồi tháng Tám năm ngoái. Cuộc sống của chúng tôi, cho đến thời điểm đó cũng chẳng hề dễ dàng gì, nhưng ít ra thì chúng tôi cũng còn sống và không mắc phải những chứng bệnh hay thương tật gì quá nghiêm trọng. Và vì đã sống sót vượt qua nhiều nghịch cảnh như thế, ngay cả tôi cũng cảm thấy khát khao được sống lâu thêm chút nữa, nếu có thể, để xem xem thế gian này rồi sẽ ra sao. Và một lý do mạnh mẽ hơn hẳn, đó chính là nỗi sợ hãi, rằng vợ con tôi có thể bị giết chết trước tôi, bỏ lại tôi bơ vơ một mình trên đời. Chỉ nghĩ về khả năng này thôi, tôi đã không tài nào chịu nổi. Tôi phải tận mắt thấy rằng họ sống sót, và điều đó nghĩa là chúng tôi phải áp dụng những biện pháp thận trọng và khôn ngoan nhất. Tuy thế, tôi lại không có tiền. Bất cứ khi nào tôi có được một ít tiền, tôi sẽ lại dốc hết vào những cơn say. Tôi có một thói xấu vô cùng nghiêm trọng, chính là thói nghiện rượu. Rượu bia vào thời điểm đó là lối đam mê xa xỉ, nhưng chỉ cần bạn bè hay người quen đến thăm tôi, tôi lại không thể dằn nổi mà nhanh chóng vung tiền mua thật nhiều rượu uống cùng với họ, chẳng khác chút nào so với tôi của ngày xưa.   

Không cần nhắc thêm gì nữa về những biện pháp thận trọng và khôn ngoan. Dù tôi thật sự ghen tị với những người đã di tản cả gia đình mình đến những vùng quê xa xôi từ lâu, tôi, vừa nghèo nàn, lại biếng nhác, vẫn cứ lưỡng lự và quanh quẩn mãi ở Mitaka, cho tới cuối cùng, chúng tôi “được” một quả bom “viếng thăm” và tôi chẳng còn muốn bám trụ lại thêm phút giây nào nữa, mới dời cả nhà đến Kofu. Giờ đây, nằm ngủ mà không cần dùng đến bộ trang bị cảnh báo không kích lần đầu tiên sau hàng trăm ngày đằng đẵng, tôi đã có thể thở phào nhẹ nhõm được phần nào, và ngẫm nghĩ rằng, dù chắc chắn còn vô vàn khó khăn phía trước, ít ra bây giờ, chúng tôi không cần phải ôm lấy lũ trẻ giữa một đêm lạnh giá và bò vào căn hầm trú bom. 

Tuy nhiên, giờ đây chúng tôi là một gia đình đã mất cả tổ ấm của mình, và điều này đã đặt chúng tôi vào một tình thế khó xử. Tôi cảm thấy rằng mình đã trải qua vô vàn nỗi khổ cực trong đời rồi, nhưng, dắt díu hai đứa con thơ dời vào sống ở nhà người khác, đã cho tôi nếm trải những nỗi khổ đau kiểu khác. Bố mẹ vợ của tôi đều đã qua đời, chị vợ tôi đã kết hôn và dời ra sống riêng, và mặc dù người trẻ tuổi nhất trong số chị em của vợ tôi, cậu em vợ, là người chủ chính thức của gia đình, cậu ấy đã gia nhập Hải quân ngay khi mới tốt nghiệp đại học khoảng hai hay ba năm về trước, để lại người em gái của vợ tôi, một cô gái độ hai mươi sáu hay hai mươi bảy tuổi, sống một mình trong ngôi nhà ở Kofu.

Cô ấy thường xuyên liên lạc với em trai mình, có vẻ là để bàn bạc về tất cả những việc từ nhỏ tới lớn trong gia đình. Tôi, đương nhiên, là ông anh rể của cả hai người họ, nhưng dù tôi có lớn hơn họ hay không, thì hiển nhiên là tôi chẳng có tiếng nói gì trong việc quản lý việc gia đình. Không chỉ không có quyền trong nhà, thực ra, tôi chẳng là gì ngoài gánh nặng cho gia đình mình, ngay từ lúc vợ chồng tôi kết hôn. Nói cách khác, tôi không phải là một người đàn ông đáng tin tưởng mà người ta có thể dựa vào. Vì thế, cũng rất bình thường khi tôi được loại trừ ra khỏi những lần bàn bạc này, và về phần tôi, tôi cũng chẳng hề hứng thú mảy may với “tài sản” của gia đình này hay bất kỳ điều gì khác, đây cũng là một thỏa thuận ngầm mà cả hai bên chúng tôi đều thấy hài lòng. Nhưng, lớn tuổi hơn cả anh chàng hải quân và cô chị hai mươi sáu, hay hai mươi bảy (có thể là hai mươi tám, tôi chưa từng thật sự chú tâm tìm hiểu lại) của cậu ta, tôi cũng rất lo lắng, rằng không biết chúng tôi có vô tình giẫm đạp lên niềm kiêu hãnh của họ, hay là họ có thể đang rất thận trọng, phòng tôi trở nên ranh mãnh hơn họ và tìm cách chiếm lấy số tài sản đó – dù rằng trên đời chắc chắn không có ai lại hay ngờ vực người khác đến vậy – nhưng sự thật là tôi lúc nào cũng trong trạng thái đề phòng, như thể là tôi đang lướt qua một khu vườn xanh mướt rêu và trơn trượt, rón rén nhảy từ hòn đá này sang hòn đá khác. Tôi thậm chí còn nghĩ rằng, sẽ dễ dàng hơn biết bao cho tất cả chúng tôi nếu vẫn còn một người lớn tuổi ở nhà, một người thực sự từng trải. 

Việc lo lắng một cách tiêu cực như thế này thật sự có thể vắt kiệt sức lực của người ta. Tôi mượn một căn phòng sáu chiếu nhìn ra cuối khu vườn để viết lách và ngủ nghỉ, và sắp xếp cho vợ con tôi ngủ trong căn phòng có bàn thờ Phật. Tôi trả tiền thuê phòng đầy đủ và đàng hoàng và cũng góp tiền đi chợ, và mỗi khi tôi có khách khứa đến thăm, tôi cẩn thận không đón tiếp họ ở phòng khách mà đưa vào phòng làm việc của mình. Tuy nhiên, tôi không tài nào bỏ rượu được, và khách từ Tokyo cũng thường đến thăm tôi, và kết cục là, cho dù tôi đã cố gắng tôn trọng những chủ nhân chân chính của ngôi nhà hết mực, nhưng cuối cùng, tôi lại hành xử một cách tùy tiện và không thể biện bạch được. Cô em vợ của tôi thật ra đối xử với chúng tôi rất nhã nhặn và khiêm nhường, và cũng giúp vợ chồng tôi rất nhiều khi chăm sóc cho lũ trẻ. Thế nhưng, tuy chưa từng có bất kỳ một cuộc tranh cãi trực tiếp và khó chịu gì, chúng tôi là một gia đình đã không còn nhà để về, và việc tôi quá nhạy cảm với điều đó có lẽ là nguyên nhân thực sự gây nên nỗi lo lắng, bất an của tôi, tôi không thể xua đi cảm giác căng thẳng như đi trên băng mỏng trong lòng mình được.  

Tất cả những điều này đã khiến cho cả cô em vợ và chúng tôi đều trở nên căng thẳng và mệt mỏi. Nhưng, dù gì thì tình hình của chúng tôi có vẻ vẫn còn khá tốt so với những người khác, có những gia đình di tản còn gặp phải nhiều tình cảnh trớ trêu hơn.“Đừng di tản đi đâu hết. Cứ bám trụ lại ở Tokyo cho tới khi nhà cậu cháy rụi đi, như thế sẽ tốt hơn.” Tôi đã viết thư khuyên người bạn thân của mình vẫn còn trụ lại ở Tokyo cùng với gia đình cậu ấy như thế. 

Chúng tôi đến Kofu vào đầu tháng Tư, khi tiết trời còn se lạnh và những đóa hoa anh đào chỉ mới bắt đầu hé nở, khá trễ so với hoa anh đào ở Tokyo. Chúng tôi ở đó suốt cả tháng Năm và tháng Sáu, khi cái nóng đặc hữu của vùng bồn địa Kofu này dần dần xuất hiện. Những chiếc lá xanh sẫm trên hàng cây lựu óng ánh như bôi dầu dưới ánh Mặt Trời gay gắt, và không lâu sau, hoa lựu đỏ rực bừng nở và những quả lựu xanh bé xíu ngày một căng phồng lên, dần dần hợp lại thành những chùm quả dài, trĩu nặng trên giàn lưới mắt cáo, và đúng vào thời điểm này một cơn hỗn loạn đã bắt đầu quét qua cả Thành phố Kofu. Cả thành phố xôn xao khi tin đồn rằng cả những thành phố cỡ vừa và nhỏ, trong đó có Kofu, cũng sẽ bị ném bom và thiêu rụi lan truyền khắp nơi. Mọi người đều chuẩn bị sẵn sàng để di tản lần nữa, chất đầy các món đồ gia dụng lên xe đẩy và dắt díu gia đình chạy trốn lên vùng đồi núi; bạn có thể nghe tiếng bước chân và tiếng đẩy xe vang lên không ngớt kể cả ban đêm. Ngay từ đầu, tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần rằng Kofu rồi cũng có thể trở thành mục tiêu không kích, nhưng nếu bảo tôi phải chất đồ đạc của nhà mình lên xe đẩy và mang theo vợ con di tản về vùng núi, van xin những con người xa lạ cho phép mình ở nhờ trong khi tôi chưa kịp tận hưởng khoảng thời gian ngắn ngủi được yên tâm ngủ mà không cần đeo thiết bị cảnh báo không kích, tôi thật sự không làm được. 

Tôi nghĩ là chúng tôi sẽ ở lại đây và không đi đâu cả. Nếu máy bay bắt đầu thả bom cháy vào thành phố, vợ tôi, cõng thằng bé trên lưng và dắt tay cô con gái năm tuổi của chúng tôi, có thể chạy ra những cánh đồng ở ngoại ô, trong khi tôi và cô em vợ của mình sẽ ở lại và bảo vệ ngôi nhà, cố hết sức mình để dập lửa. Nếu ngôi nhà bị thiêu rụi, thì đành chịu, và chúng tôi có thể dựng tạm một túp lều trên đống tro tàn và cố gắng trụ vững.

Đây là kế hoạch mà tôi đã đề ra, và tất cả mọi người đều đồng ý với tôi. Chúng tôi đào một cái hố để chôn thực phẩm, một bộ dụng cụ nấu ăn, mấy cây dù, giày dép, đồ dùng khi tắm rửa, một chiếc gương soi, và kim chỉ – tất cả những đồ dùng cần thiết và cơ bản nhất, để tránh rơi vào cảnh túng quẫn tột cùng và trắng tay nếu ngôi nhà bị phá hủy. 

Chôn giúp con cái này luôn nhé bố.” Cô con gái năm tuổi của tôi giơ đôi guốc gỗ geta màu đỏ ra.

À, được thôi. Bố để vào rồi nhé.” Tôi đáp, nhận lấy đôi guốc và nhét chúng vào một góc hố. Trong một khoảnh khắc, tôi cảm tưởng như thể mình đang chôn một con người. 

Ít ra bây giờ mình đều ở cùng nhau,” cô em vợ tôi nói. Cô ấy, có lẽ, đang cảm nhận ánh sáng le lói của hạnh phúc mà người ta thường cảm thấy khi ở bên bờ vực của cõi hư vô. Thật ra, chưa đầy bốn, năm ngày sau, căn nhà của chúng tôi đã chìm trong lửa đỏ. Điều này đã xảy đến sớm hơn tôi dự đoán tận một tháng.

Trước đó chừng mười ngày, lũ trẻ nhà tôi bị bệnh về mắt và phải đi khám bác sĩ. Đó là chứng viêm kết mạc truyền nhiễm cấp tính hay còn gọi là chứng “đau mắt đỏ”. Tình trạng của thằng bé thì không quá tệ, nhưng chị của nó thì ngày một nặng hơn. Chỉ trong vòng một tuần, khoảng hai hoặc ba ngày trước vụ ném bom, con bé đã tạm không nhìn thấy gì nữa. Mi mắt của nó sưng lên đến nỗi khuôn mặt con bé như bị biến dạng, và khi ta cố tách hai mi mắt của nó ra, thì chỉ thấy một thứ gì đó viêm đỏ, sưng tấy lên và mưng mủ như mắt cá chết. Nghĩ rằng đây không chỉ đơn thuần là đau mắt đỏ thôi mà là một bệnh nhiễm trùng cực kỳ độc hại đã gây tổn thương vĩnh viễn lên đôi mắt, tôi đã đưa con bé đến một bác sĩ khác, nhưng, một lần nữa, người ta vẫn chẩn đoán là viêm kết mạc. Sẽ mất ít lâu để khỏi hẳn, họ nói với chúng tôi như vậy, nhưng chắc chắn sẽ khỏi.

Tuy thế, nhưng bác sĩ vẫn thường mắc sai lầm. Thực tế thì, họ thường sai nhiều hơn đúng. Tôi tuyệt nhiên không phải là người sẽ tin răm rắp vào tất cả những gì bác sĩ nói.  

Tôi chỉ hy vọng đôi mắt của con bé sớm phục hồi. Tôi uống triền miên, nhưng lại không thể say. Có một đêm, tôi còn mửa ra trên đường về nhà từ chỗ tôi uống rượu, và tôi cũng không đùa khi nói rằng mình đã ngồi xổm xuống bên lề đường, chắp tay lại cầu nguyện. Xin hãy phù hộ cho đôi mắt của con tôi có thể mở ra bình thường khi tôi về đến nhà. Khi tôi vừa bước chân vào nhà, tôi nghe tiếng con bé đang hát một cách thật ngây thơ. Tạ ơn trời, tôi nghĩ, và phóng vội vào nhà, chỉ để thấy con bé đang đứng đó một mình, đầu cúi xuống, trong một căn phòng với ánh đèn tù mù, thì thầm tự hát. Tôi không thể chịu đựng nổi khi nhìn con mình như thế. Con gái tôi bị mù vì tôi là một thằng nghiện rượu không một xu dính túi. Nếu như tôi chịu sống một cuộc đời đàng hoàng, ngay thẳng, có lẽ, tai họa này sẽ chẳng thể nào giáng xuống gia đình tôi. Tội nghiệt của người cha và giờ đây, đứa con phải gánh chịu hậu quả. Là sự trừng phạt của trời. Đến nỗi, tôi tự nhủ với mình rằng, nếu đôi mắt của đứa nhỏ này vĩnh viễn không mở ra được nữa trong suốt cuộc đời của con bé, tôi nguyện sẽ từ bỏ mọi ước vọng về văn chương và vinh dự của cá nhân tôi để được ở bên cạnh con gái mình trọn đời. 

Bé ơi, chân em đâu rồi? Tay đâu, tay đâu?” Mỗi khi con bé thấy vui vẻ, nó sẽ chơi đùa với cậu em bé bỏng của mình như thế, dò dẫm ôm em. Sẽ ra sao nếu có một trận không kích xảy đến ngay bây giờ, với tình hình hiện tại của con bé? Chỉ nghĩ thôi đã khiến tôi rùng mình sợ hãi. Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác mà phải chạy thôi, vợ tôi sẽ cõng đừa con sơ sinh và tôi sẽ cõng con gái mình. Nhưng cô em vợ của tôi sẽ không thể nào tự mình bảo vệ căn nhà. Lúc đó, cô ấy cũng phải chạy chung với chúng tôi. Căn cứ vào những gì mà máy bay Đồng minh đã làm với Tokyo, sẽ không khó để thấy rằng Thành phố Kofu này cũng sẽ bị phá hủy hoàn toàn, chắc chắn là bao gồm cả phòng mạch của bác sĩ mà chúng tôi đang đưa con đến khám bệnh. Và cả những phòng mạch khác nữa, sẽ không còn một bóng dáng bác sĩ nào ở đây. Rồi lúc đó, chúng tôi sẽ đưa con bé đi đâu khám bệnh đây? 

“Anh không quan tâm bọn họ sẽ làm gì với chúng ta. Chỉ mong họ có thể tử tế mà đợi thêm một tháng nữa trước khi làm điều đó.”

Tối đêm đó, tôi tươi cười và nói như thế với mọi người trên bàn ăn, và trong lúc đó, chúng tôi nghe tiếng còi báo động không kích lần đầu tiên, cùng với tiếng nổ ầm ầm như sấm động quen thuộc và loạt chớp sáng xé toạc bầu trời quanh mình. Quân Đồng minh đã bắt đầu thả bom cháy. Tôi nghe một loạt tiếng nước bắn tung tóe: em vợ tôi đang ném bát đĩa vào ao nước gần hiên nhà.

Vụ không kích đã xảy đến vào thời điểm tồi tệ nhất. Tôi đặt đứa con gái không thấy đường của mình lên lưng. Vợ tôi cũng cõng đứa nhỏ sơ sinh như thế, và chúng tôi chạy ra ngoài, mỗi người nắm chặt lấy một chiếc đệm futon. Chúng tôi chạy qua khoảng mười khối nhà, nấp vào những chiến hào hai, ba lần dọc đường, trước khi đến vùng đồng trống. Ngay khi chúng tôi vừa trải hai tấm futon lên cánh đồng lúa mạch vừa gặt và ngồi xuống thở dốc, thì một trận mưa lửa dội thẳng xuống đầu chúng tôi từ trên bầu trời. “Nằm xuống dưới tấm futon mau!” tôi hét lên với vợ mình và ném tấm futon của tôi lên người tôi, nằm sấp xuống đất với cô con gái còn đang bám chặt trên lưng. Tôi đã tưởng tượng đến cảm giác đau đớn khủng khiếp khi bị bắn trúng trực tiếp.

Chúng tôi thoát được màn này, nhưng khi tôi ném tung chiếc futon và ngồi dậy quan sát, tôi đã thấy tất cả chúng tôi đang bị bao vây bởi một biển lửa.

Dậy dập lửa đi! Dập lửa đi!” tôi hét lên, không chỉ với vợ mình mà còn để cho cả những người đang nằm trên mặt đất quanh chúng tôi nghe thấy, và tất cả chúng tôi bắt đầu dập lửa bằng những tấm chiếu và chăn của mình. Cũng khá buồn cười khi lửa lại dễ dập đến vậy. Tuy con gái tôi không thấy gì, con bé hẳn là đã cảm thấy được có một chuyện khác thường đang xảy ra, con bé im lặng bám chặt lấy vai tôi, chẳng dám hé môi nói một lời.

Em ổn không?” Tôi hỏi vợ mình, bước đến bên cô ấy khi đám lửa về cơ bản đã được kiểm soát. 

Dạ“, cô ấy lặng lẽ đáp, “Chỉ mong đây là điều tệ nhất có thể rồi.” Với cô ấy, có lẽ, bom cháy chẳng là gì so với mấy loại bom nổ đâu. 

Chúng tôi dời sang một chỗ khác trên cánh đồng để nghỉ ngơi, và ngay khi chúng tôi định nằm nghỉ thì trận mưa lửa thứ hai lại đổ xuống. Nghe có vẻ lạ lùng, nhưng tôi lại cảm thấy như thể là tất cả chúng tôi đều đang được thần linh phù hộ. Không chỉ gia đình tôi, mà tất cả những ai trú ẩn ở cánh đồng này đều không bị thương. Chúng tôi hết thảy đều bận rộn với việc dập tắt những quả cầu lửa dính như keo nhờn bằng những chiếc futon hay chăn hay đất cát, rồi ngồi xuống nghỉ ngơi lần nữa.  

Em vợ tôi đến nhà của một người họ hàng xa, ở vùng đồi núi cách thành phố chừng bốn dặm để xin ít thực phẩm qua ngày. Tôi và vợ con mình thì ngồi trên một tấm futon và lấy tấm còn lại bọc quanh người. Chúng tôi quyết định bám trụ ở lại đây thôi, vì chỗ nào giờ cũng như nhau cả. Tôi kiệt sức rồi. Tôi đã quá mệt mỏi với việc phải chạy lung tung khắp nơi, cõng theo cô con gái trên lưng. Lũ trẻ giờ đang nằm im lặng trên chiếc futon, say ngủ, trong khi bố mẹ chúng nhìn chằm chằm một cách vô thức về phía thành phố Kofu đang chìm trong lửa đỏ. Tiếng gầm gừ của máy bay đã dần xa.

Em nghĩ là chắc cũng sắp xong rồi,” vợ tôi bảo. “Ừ thì, với anh, giờ xong cũng đúng lúc rồi đó.” “Chắc nhà mình cũng bị cháy hết rồi.” “Cũng chưa biết chừng đâu em. Nếu nhà vẫn còn thì tốt.” Với tôi thì, thật ra, chẳng có chút hy vọng nào cả, nhưng chẳng phải sẽ tuyệt lắm sao, nếu, bằng một cách kỳ diệu nào đó, nhà chúng tôi vẫn còn nguyên vẹn?

Mà chắc không đâu,” tôi nói. “Chắc chắn là không rồi.” Tuy thế, thật chẳng dễ dàng gì để từ bỏ tia hy vọng cuối cùng. Một ngôi nhà nông trại đang cháy dữ dội trước mặt chúng tôi. Phải mất khá lâu nó mới cháy xong và đổ sụp xuống đất. Và ta gần như có thể thấy được lịch sử của cả ngôi nhà đang dần hóa thành tro bụi cùng với những cây cột và mái lợp của nó. 

Đêm dần trôi qua và ánh bình minh nhợt nhạt đã bắt đầu ló dạng. Chúng tôi đưa lũ trẻ đến trường học nhà nước, nơi chưa bị thiêu cháy trong biển lửa đêm qua. Người ta sắp xếp cho chúng tôi nghỉ ngơi ở một phòng học trên tầng hai. Lũ trẻ cũng bắt đầu thức giấc. Và đương nhiên là, ngay cả khi thức dậy, cặp mắt của con bé vẫn còn nhắm chặt. Mò mẫm xung quanh, con bé tự đùa vui bằng cách trèo lên bục giảng của giáo viên hay một cái gì đó tương tự thế. Có vẻ như tâm hồn con bé không hề bị đè nặng bởi bệnh tình của mình.  

Tôi để vợ con mình ở lại trường học và quay về để kiểm tra xem căn nhà thế nào. Chỉ đơn thuần đi bộ trên đường phố thôi cũng là một việc vô cùng khổ sở, bởi sức nóng và khói bụi từ những ngôi nhà âm ỉ cháy hai bên đường, và phải đi đường vòng, đổi hướng vô số lần, cuối cùng, bằng cách nào đó, tôi đã tìm được đường về khu phố của mình. Tôi sẽ hạnh phúc biết bao nếu ngôi nhà vẫn còn đó! Nhưng, không, không thể nào đâu. Tôi tự nhủ rằng, mình đừng hy vọng hão làm gì, nhưng cái bóng ma hy vọng trong khoảng một phần triệu cơ hội cứ lởn vởn trong đầu tôi. Và tôi đã nhìn thấy cái hàng rào gỗ đen bao quanh căn nhà. 

Nó vẫn còn đó! Nhưng chỉ hàng rào còn thôi. Còn bản thân căn nhà thì đã bị phá hủy hoàn toàn. Em vợ tôi đang đứng trước đống đổ nát, khuôn mặt đen sạm bởi muội than.

Chào anh, tụi nhỏ thế nào rồi?” “Chúng ổn cả.” “Chúng đang ở đâu thế anh?” “Giờ tụi nhỏ đang ở trường học.” “Em có một ít cơm nắm. Em phải đi bộ như điên, nhưng chỉ cần có chút thức ăn cũng đỡ.”

Cảm ơn em.” “Chúng ta phải lạc quan lên. Anh nhìn này. Hầu hết những món đồ mà mình chôn đều không sao cả. Chúng ta giờ sẽ ổn thôi mà.

Lẽ ra mình nên chôn nhiều đồ hơn.” “Không sao đâu anh. Với tất cả những thứ này, mình đã có thể ngẩng cao đầu dù cho đi đến đâu nhờ giúp đỡ đi nữa. Em sẽ mang một ít thức ăn tới trường. Anh cứ ở lại đây nghỉ ngơi đi. Lấy một ít cơm nắm luôn nhé. Lấy bao nhiêu cũng được.

Một người phụ nữ khoảng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi lại chững chạc, trưởng thành hơn cả một người đàn ông tuổi bốn mươi ở nhiều mặt. Cô ấy như một trụ cột, một hình mẫu của sự điềm tĩnh. Ông anh rể hoàn toàn vô dụng của cô ấy dỡ vài miếng gỗ của hàng rào ra, đặt chúng xuống đất sau vườn, ngồi chéo chân lên, nhai nhồm nhoàm những nắm cơm mà em vợ mình để lại. Tôi hoàn toàn chẳng còn chút tiền bạc hay kế hoạch nào. Nhưng, dù là vô dụng hay đơn thuần chỉ là ngu xuẩn, tôi cũng chẳng buồn suy nghĩ kế hoạch tương lai. Điều duy nhất mà tôi thật sự quan tâm đó là đôi mắt của con gái tôi. Giờ phải làm sao để chữa khỏi cho con bé đây chứ?

Không lâu sau đó, vợ tôi và em vợ tôi cùng đến. Vợ tôi cõng đứa bé sơ sinh trên lưng, còn em vợ tôi thì dắt tay con gái của tôi. 

Con đã đi bộ suốt trên đường về đây luôn đấy à?” Tôi hỏi con gái. “Dạ,” con bé đáp, khẽ gật đầu. “Thật vậy luôn? Khá lắm con. Nhà mình cháy cả rồi.”

Dạ.” Con bé lại gật đầu. “Có vẻ như nhà của bác sĩ cũng xong luôn rồi con ạ.” Tôi nói, đoạn quay sang vợ mình “Mình phải làm gì với cặp mắt của con bé đây em?”

Bọn em rửa mắt cho con bé hồi sáng này rồi ạ.” “Ở đâu thế?” “Có một bác sĩ đã ghé qua trường học.” “Thật ư? Tốt quá rồi.” “Không anh ơi, đó là điều tốt nhất mà họ làm được rồi. Một y tá đã rửa mắt giúp con mình.” “.” Ngày hôm đó, chúng tôi ở nhờ nhà của một người bạn học của em vợ tôi ở vùng ngoại ô. Chúng tôi mang theo ít thức ăn, nồi chảo đào lên từ chiếc hố chôn đồ vật dạo trước bên mình. Mỉm cười với cô em vợ, tôi lấy một chiếc đồng hồ từ túi áo ra cho cô ấy xem. 

Mình vẫn còn cái này đây mọi người. Anh đã kịp mang theo nó trước khi chạy khỏi nhà.” Đó là chiếc đồng hồ bỏ túi của cậu em vợ tôi. Trước đó thì tôi thấy nó nằm trên bàn và đã tự lấy để dùng.

Tuyệt lắm anh.” Cô ấy mỉm cười lại với tôi. “Anh làm em ngạc nhiên đó. Giờ thì mình có thêm chút tài sản rồi.”

Tôi cũng khá tự hào với chính mình. “Thật ra, em biết đó, sẽ khá là bất tiện nếu mình không có một chiếc đồng hồ.” Tôi ấn chiếc đồng hồ vào bàn tay nhỏ nhắn của con gái mình. “Thấy không con?” Tôi bảo. “Đây là một chiếc đồng hồ. Con đặt nó lên tai đi. Nghe không con, tích – tắc tích – tắc? Nhìn xem,” tôi nói với vợ mình và em cô ấy. “Nó cũng là một món đồ chơi thú vị cho một đứa nhỏ không thấy đường.”

Con gái tôi đang đứng yên, nghiêng đầu, áp chiếc đồng hồ vào tai để lắng nghe thì đột nhiên nó tuột khỏi tay con bé. Chiếc đồ hồ rơi thẳng xuống đất, vang lên một tiếng keng rõ to. Mặt đồng hồ bằng pha lê vỡ vụn. Không thể sửa được nữa. Không dễ gì để tìm được một cửa hàng bán kính đồng hồ. 

Ôi, không” tôi thốt lên, lòng chùng hẳn xuống. “Ngốc quá con ơi” em vợ tôi lẩm bẩm, nhưng tôi cũng thấy yên tâm phần nào khi cô ấy không quá đau lòng khi đột nhiên mất đi “tài sản” duy nhất còn sót lại. 

Chúng tôi nấu bữa tối ở một góc vườn trong ngôi nhà bạn học của em vợ tôi, sau đó đi nghỉ sớm trong căn phòng rộng sáu chiếu. Vợ tôi và em gái, cả hai đều mệt mỏi vô cùng, nhưng có vẻ như đều không ngủ được, họ lặng lẽ bàn luận xem kếp tiếp tất cả chúng tôi nên làm gì. 

Này, không cần phải lo đâu,” tôi nói với họ. “Chúng ta sẽ đến nhà anh ở tận phía bắc. Mọi thứ rồi sẽ ổn thôi.”

Họ đều im lặng. Ngay từ đầu, cả hai đã không có chút tin tưởng gì với những ý kiến của tôi. Có vẻ như, họ đang tự sắp xếp kế hoạch của riêng mình và chẳng buồn trả lời tôi. 

Thôi được rồi, anh biết là mọi người không có lòng tin gì với anh cả.” Tôi mỉm cười chua chát. “Nhưng, nghe này, tin anh một lần này đi. Anh chỉ mong có vậy.” Tôi nghe tiếng em vợ tôi cười khúc khích trong bóng tối, như thể tôi vừa nói điều gì đó vô cùng kỳ quặc. Rồi cô ấy và vợ tôi tiếp tục bàn luận với nhau.

Được thôi. Tùy mọi người vậy,” tôi nói, và cũng tự bật cười. “Anh cũng chẳng thể giúp gì hơn nếu không ai tin anh.

Ừ thì, anh còn mong đợi gì nữa chứ?” vợ tôi đột nhiên cáu kỉnh ngắt lời. “Anh nói ra những điều ngớ ngẩn như thế, tụi em không tài nào biết được là anh đang đùa hay nghiêm túc nữa. Cũng đúng thôi khi bọn em không thể dựa vào anh. Ngay cả vào những lúc như thế này, em cược là trong đầu anh chỉ có mỗi rượu sake mà thôi.”

Đừng có ngớ ngẩn thế.” “Nhưng nếu mình có rượu, anh sẽ uống liền chứ gì, không phải sao?” “Ừ thì, anh không biết nữa, chắc là có đấy.” Hai người phụ nữ trong nhà đã quyết định rằng, dù sao đi nữa, chúng tôi cũng không thể tiếp tục làm phiền gia đình chủ nhà này thêm nữa, và rằng, sáng mai, chúng tôi sẽ phải tìm một nơi khác để ở nhờ. Hôm sau, chúng tôi lại chất hết đồ đạc của mình lên một chiếc xe đẩy lớn và đến nhà một người quen khác của em vợ tôi. Ngôi nhà này khá rộng rãi. Người chủ nhà là quý ông độ năm mươi tuổi, có vẻ đứng đắn và tốt bụng. Ông ấy cho chúng tôi mượn một căn phòng rộng 10 chiếu. Chúng tôi cũng tìm được một bệnh viện gần đó. Người vợ của ông chủ nhà kể chúng tôi nghe rằng bệnh viện tỉnh ở Kofu đã bị phá hủy và người ta đã dời đến một tòa nhà gần đây, ở vùng ngoại ô.  Tôi và vợ, mỗi người cõng một đứa con, chọn con đường tắt băng qua cánh đồng dâu tằm và đến được bệnh viện ở dưới chân núi, chỉ trong vòng mười phút.

Bác sĩ chuyên khoa mắt là một phụ nữ. “Con bé không thể mở mắt ra chút nào cả. Chúng tôi đang định di tản về nhà của tôi ở vùng quê, nhưng đây sẽ là một chuyến đi dài bằng tàu hỏa, và chúng tôi cũng chẳng dám thử vì sợ tình hình của con bé có thể chuyển biến xấu trên đường đi. Chúng tôi thật sự hết cách rồi.” Lau vội mồ hôi trên mặt, tôi mô tả triệu chứng của con bé một cách thiết tha, hy vọng rằng có thể làm cho người bác sĩ này cảm động và làm mọi thứ có thể trong năng lực của mình để giúp đỡ chúng tôi.

Gì cơ, này phải không anh?” cô ấy nói một cách vui vẻ “Sẽ mau hết thôi anh ơi.” “Thật chứ?” “Nó chẳng hề ảnh hưởng gì đến bản thân đôi mắt của bé cả. Tôi chắc chắn rằng gia đình anh có thể lên đường trong khoảng bốn, năm ngày nữa thôi.”

Vợ tôi xen ngang và hỏi xem có loại thuốc nào để chích cho cho con bé mau khỏi hơn không. “Có đấy, đúng vậy, nhưng mà … ” “Bác sĩ ơi, làm ơn đi mà,” vợ tôi van nài, và cúi đầu thật sâu. Không biết là nhờ tác dụng của thuốc hay chứng nhiễm trùng đã tự khỏi, tôi không chắc nữa, nhưng đôi mắt của con gái tôi đã mở ra được vào buổi chiều thứ hai sau ngày chúng tôi đến bệnh viện. 

Tạ ơn trời, tạ ơn trời,” Đó là tất cả những gì mà tôi có thể nói, và tôi cứ lặp đi lặp lại mãi. Điều đầu tiên tôi làm là đưa con bé đi xem những gì còn sót lại của căn nhà.

Con thấy không? Cháy hết cả rồi.” “Dạ,” con bé đáp, nở một nụ cười lớn trên môi. “Cháy hết cả rồi.

Mọi thứ đều không còn nữa. Ông Thỏ này, giày dép của chúng ta này, nhà Odagiri, nhà Chino, mọi thứ đều cháy sạch.”

Dạ, chúng đều cháy cả rồi,” con bé đáp, vẫn cười.

<Mình dịch từ bản dịch tiếng Anh trong quyển Self Portraits: Tales from the life of Japan’s great decadent romantic Osamu Dazai (Ralph F. McCarthy) nên sẽ có thiếu sót, khác biệt đôi chút với bản gốc tiếng Nhật. Bạn nào biết tiếng Nhật có thể tham khảo bản gốc ở đây nhé: https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/263_20161.html>

P/S: Trong lúc dịch thì mình có tìm hiểu thêm thông tin hiện tại về bà Sonoko, người con gái lớn của Dazai đã xuất hiện trong câu chuyện này và được tin bà đã qua đời ngày 20 tháng Tư năm 2020 bởi chứng suy hô hấp… Bà Sonoko là người đã góp phần xây dựng Quảng trường Ký ức, nơi nghỉ chân cho khách tham quan đi từ Shayokan đến Tượng đài Văn học Dazai, và cũng là một trong những người chủ trì ngày Anh Đào Kỵ hằng năm.