~Dịch: Vườn quốc gia Khustain Nuruu (Töv, Mông Cổ)~

Đồng cỏ trải dài mênh mang này là nơi sinh sống của những chú ngựa hoang chân chính cuối cùng trên thế giới.

Loài ngựa takhi là loài ngựa hoang cuối cùng còn sót lại trên thế giới.  

maxresdefault

Một cuộc hồi sinh ngoạn mục vào những năm 90 không diễn ra trên màn ảnh hay trường đua, mà trên thảo nguyên Mông Cổ.

Ngựa hoang takhi vốn sinh sống trên thảo nguyên Mông Cổ đã biến mất khỏi môi trường hoang dã từ những năm 70, nhưng nhờ nhiều chương trình nhân giống, chúng dần có mặt trở lại trên “quê hương” của mình, bao gồm cả “ngôi nhà” ban đầu của chúng: đó là Vườn quốc gia Khustain Nuruu.

Loài ngựa takhi (tên gọi chính thức là ngựa Przewalski, đặt theo tên của nhà thám hiểm người Nga, người đầu tiên phát hiện ra chúng), có lẽ là loài ngựa hoang cuối cùng trên thế giới. Trong khi hầu hết những con ngựa “hoang” trên Trái Đất là ngựa nhà thích nghi trở lại với đời sống hoang dã, loài ngựa Przewalski chưa bao giờ được thuần hóa hoàn toàn. Đến tận thế kỷ XVIII, những con ngựa với vóng dáng thấp bé nhưng đầy cơ bắp này vẫn còn tự do lang thang khắp các thảo nguyên ở Mông Cổ, Kazakhstan, và Siberia thuộc Nga. Nhưng sau đó số lượng của chúng bắt đầu sụt giảm. Năm 1967, người ta phát hiện đàn ngựa takhi cuối cùng và vào năm 1969, con ngựa đơn độc cuối cùng được tìm thấy.

Người ta tuyên bố loài ngựa này đã “tuyệt chủng trong tự nhiên”, và điều này đã không thay đổi trong suốt ba thập niên. Chỉ còn 13 con ngựa takhi còn sót lại, được nuôi trong các vườn thú trên thế giới. Các nhà bảo tồn cẩn thận nhân giống chúng, và khi số ngựa dần dần lên đến hơn 1,500 con, họ thả chúng trở về môi trường tự nhiên. Khuyết điểm của phương pháp này là nguồn gene của tất cả những con ngựa này bị giới hạn.

Một trong số những nơi mà loài ngựa này được đưa về môi trường hoang dã vào năm 1992 là vùng đất bản địa mà tổ tiên chúng từng sinh sống, Khustain Nuruu hay còn gọi là Vườn quốc gia Hustai. Một năm sau đó, vườn quốc gia rộng 50,000 ha này được công nhận là “Khu vực được bảo vệ đặc biệt”. Nhiệm vụ chủ chốt của vườn quốc gia này là bảo tồn và phát triển bền vững loài ngựa quý hiếm này.

Ngày nay, khách tham quan có thể trông thấy những bầy ngựa màu nâu xám lang thang khắp vùng thảo nguyên khô cằn và rộng lớn. Mặc dù “ngôi sao” của Vườn quốc gia Khustain Nuruu, không thể nghi ngờ gì nữa, là loài ngựa takhi, nơi đây còn là “mái nhà” của nhiều loài động vật khác như hươu đỏ, linh dương thảo nguyên, lửng Á – Âu, sói xám và linh miêu Á – Âu.

Những điều bạn cần biết:

Vườn quốc gia Khustain cách thủ đô Ulaanbaatar của Mông Cổ 60 dặm ( khoảng 97km ) về phía Tây.  Các phương tiện giao thông công cộng có thể chở du khách đến gần vườn quốc gia, nhưng thuê một chiếc ô tô riêng sẽ tiện hơn để bạn khám phá toàn công viên. Bên trong công viên cũng có chỗ để khách tham quan nghỉ lại, nhưng cũng có nhiều khu cắm trại khác nằm rải rác trong khu vực.

Source: Dịch từ bản tiếng Anh “Khustain Nuruu National Park” trên Atlas Obscura

https://www.atlasobscura.com/places/khustain-nuruu-national-park

~Dịch: “Căn phòng tối” (Nagano, Nhật Bản)~

20161209090507

Ngôi chùa cổ này là nơi để bạn bước lên hành trình tìm lại chính mình.

Chùa Zenkoji của Nhật Bản, tọa lạc ở thành phố Nagano, nơi từng được chọn để tổ chức sự kiện Olympics mùa đông, chính là hình ảnh mà bạn sẽ mường tượng ra mỗi khi nghĩ đến đền chùa Nhật Bản – những khối kiến trúc trang nghiêm, nghi ngút khói hương, với lịch sử hơn 1400 năm tuổi, và hằng năm, hơn tám triệu người hành hương lũ lượt đổ về đây để cầu may mắn và tình duyên bằng những cách lạ kỳ.  

Ở Chùa Zenkoji, hành trình tìm kiếm ý nghĩa vận mệnh vĩnh hằng trong cuộc đời hữu hạn được thể hiện qua một hình thức trông như trò chơi “trốn tìm” trong một đường hầm, hay còn gọi là “căn phòng tối”. Bên dưới ngôi chùa chính, các nhà sư đã giấu đi chiếc “Chìa khóa dẫn đến cõi Cực Lạc”, và hành trình đi tìm chiếc chìa khóa này cũng là một thách thức không nhỏ đối với cả những người khát khao khám phá, mạo hiểm nhất. Chiếc chìa khóa được giấu trong một đường hầm không ánh mặt trời ( đương nhiên rồi!), và chẳng một tia sáng nào có thể lọt vào, trừ phi là ánh sáng tinh thần, trí tuệ.

Bạn phải mang tất khi bước đi trên con “Đường đến cõi Niết Bàn” – ở lối vào đường hầm, bạn phải cởi giày ra trước khi bước chân vào thế giới bóng tối đầy bí ẩn. Một khi đã đặt chân vào đường hầm, điều đầu tiên mà bạn phải làm là giữ bình tĩnh. Cảm giác không thể nhìn thấy bất cứ cái gì sẽ rất choáng ngợp, nhưng bạn không bao giờ lẻ loi đâu – người khách hành hương đến đây trước bạn đã bắt đầu hành trình của họ rồi. Vì mục tiêu là tìm và cầm lấy một chiếc chìa khóa vàng ở đâu đó trong bóng tối, nên bạn sẽ phải thử tìm và nắm bắt rất nhiều lần, và chẳng phải bàn tay nào cũng có thể tìm ra…

Ý nghĩa biểu tượng của hành trình tìm đến cảnh Niết Bàn trong bóng tối này thật đẹp. Bóng tối khiến bạn phải tự quán chiếu, suy ngẫm về bản thân mình, tìm đến sự giác ngộ, và bình tâm lại để tìm ra con đường. Ai có thể đạt đến trạng thái Thiền này và giữ cho nhịp tim mình ổn định trở lại thì có thể bắt đầu tìm chiếc chìa khóa. Dù bạn có thể tìm thấy nó hay không thì khi bạn bước chân ra khỏi đường hầm, bạn sẽ cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm, và tự do hoặc cảm giác như thể mình được sinh ra một lần nữa, một trải nghiệm khó quên.

Điều bạn cần biết trước khi đến:

Zenkoji: Motoyoshicho-491 Nagano, Tỉnh Nagano 380-0851,

JapanTel: +81 26-234-3591

www.zenkoji.jp‎

Source: Dịch từ bài “Nagano’s Darkroom” trên Atlas Obscura

https://www.atlasobscura.com/places/nagano-s-darkroom

~Dịch: Đèn bơ yak ở các ngôi chùa Tây Tạng~

Ở những ngôi chùa Tây Tạng, đèn bơ yak thắp suốt đêm ngày.

Yak butter candles burning in Jokhang Temple.

Nằm chót vót trên dãy núi Himalaya hùng vĩ, nơi tài nguyên khan hiếm và điều kiện sống vô cùng khắc nghiệt, ánh đèn vẫn cháy lên dìu dịu suốt đêm ngày trong các ngôi chùa Phật giáo ở Tây Tạng. Những chiếc đèn thờ trông như đài hoa này với ánh lửa lung linh, tỏa sáng không phải nhờ vào sáp nến hay điện. Chúng cháy lên nhờ bơ yak. Được làm bằng cách tách mỡ khỏi sữa bò yak, cả những chiếc đèn và bơ thắp đều là trung tâm của các nghi lễ và nghi thức Phật giáo Tây Tạng, chẳng hạn như Lễ hội Cầu nguyện Monlam ( với hội thắp đèn bơ vào ngày thứ mười lăm của lễ hội ).

Được dùng để làm đối tượng thiền quán, ánh sáng của chiếc đèn bơ biểu trưng cho hành trình theo đuổi sự giác ngộ. Ánh lửa nhấp nháy thì đại diện cho tính vô thường của cuộc đời và bóng tối và những khó khăn mà ta gặp phải trong bóng tối là cuộc đấu tranh của mọi sinh linh trên thế gian. Ngoài những chiếc đèn bơ đã có sẵn trong chùa, các nhà sư còn chăm nom những cây đèn mà người dân địa phương hay khách hành hương dâng lễ. Có những cây đèn nhỏ, và được làm bằng những vật liệu đơn giản, nhưng cũng có những chiếc đèn to, như cái trống, được mạ vàng và trang trí với những biểu tượng Phật giáo, như hình hoa sen chẳng hạn.  

Những điều bạn cần biết:

Một vài chiếc đèn bơ dùng bơ sữa trâu hay dầu thực vật để thắp, nhưng bơ yak vẫn là lựa chọn dành cho những chiếc đèn truyền thống.

Nơi bạn có thể đến để trải nghiệm:

Chùa Jokhang

Chengguan, Lhasa, Lhasa, Tibet, 850000, China

Được xây dựng vào thế kỷ thứ bảy, tu viện này là một điểm hành hương cho các tín đồ Phật giáo Tây Tạng. Nhiều chiếc đèn bơ sẽ được trưng bày khi chùa tổ chức Lễ hội Cầu nguyện Monlam nhân dịp Tết ở Tây Tạng (diễn ra vào giữa tháng Một và tháng Ba).

 

Source: Dịch từ bài tiếng Anh – Butter Lamps trên Atlas Obscura

https://www.atlasobscura.com/foods/butter-lamps

~Dịch: Lâu đài Neuschwanstein (Bavaria, Đức)~

Lâu đài cổ tích của “vị vua cổ tích”

Schloss_Neuschwanstein_2013

Lâu đài Neuschwanstein

Lâu đài “Công chúa ngủ trong rừng” ở Disneyland, Lâu đài Cinderella ở Vương quốc Thần thoại (Magic Kingdom) và vô vàn lâu đài ma thuật khác trên thế giới đều được tạo niềm cảm hứng từ một lâu đài duy nhất ngoài đời thực: đó là Lâu đài Neuschwanstein, nơi nghỉ dưỡng tuyệt đẹp như mơ của “vị vua cổ tích” Ludwig II của xứ Bavaria. Được nhà vua ra lệnh xây dựng nhằm bày tỏ lòng mến mộ và kính trọng nhà soạn nhạc đại tài Richard Wagner, tòa lâu đài tráng lệ này được phác thảo bởi nhà thiết kế sân khấu người Đức Christian Jank. Tòa lâu đài xinh đẹp và đầy quyến rũ này càng tôn lên vẻ lãng mạn của khung cảnh núi rừng làm nền ở xung quanh.

Lâu đài Neuschwanstein ( nghĩa đen là “Lâu đài Thiên Nga Đá Mới” ) được khởi công xây dựng vào tháng Chín, năm 1869. Kỹ thuật xây dựng tòa lâu đài được xem là thuộc dạng tân tiến và hiện đại vào thời đó. Những phát minh mới, như điện, máy bơm, nhiệt và tàu thủy chạy bằng hơi nước được đưa vào phục vụ việc xây dựng lâu đài, và bản thân đức vua cũng là người đã giới thiệu những phát minh này đến với địa phương.

Năm 1886, khi tòa lâu đài vô cùng xa hoa này sắp hoàn thành xây dựng, nội các của nhà vua tuyên bố ông đã bị tâm thần và bắt giữ ông không lâu sau đó. Sau khi bị bắt, hôm sau, Ludwig yêu cầu người bác sĩ giám sát mình cùng tản bộ với ông trong rừng. Ông bác sĩ đồng ý và bảo cận vệ của mình ở lại. Chiều hôm đó, người ta phát hiện ra nhà vua và ông bác sĩ đã chết một cách bí ẩn trong một hồ nước. Vua Ludwig đã không còn cơ hội được ngắm nhìn tòa lâu đài hoàn thành, nhưng niềm đam mê và khiếu thẩm mỹ của ông dành cho lối kiến trúc trang nhã, tinh tế và xa hoa, tráng lệ đã in dấu khắp nơi trong nội thất của tòa lâu đài. Sau khi ông qua đời, lâu đài được mở cửa cho dân chúng đến tham quan để góp phần trả bớt chi phí khổng lồ đã xây dựng nên nó. Ngày nay, lâu đài thu hút đến hơn một triệu lượt khách tham quan mỗi năm.

Đẹp nhất chính là Phòng Hang động, với một hang động nhân tạo, có cả thạch nhũ và một thác nước; đại diện cho một hang động được nhắc đến trong vở opara của Wagner, vở “Tannhauser”.

Source: Dịch từ bài Neuschwanstein Castle trên Atlas Obscura

https://www.atlasobscura.com/places/neuschwanstein-castle

 

~Dịch: Amezaiku – Nghệ thuật làm kẹo tò he Nhật Bản~

Nghệ thuật làm kẹo tuyệt đẹp này đang trở lại.

Amezaiku_goldfish_ameshin

 

Hàng trăm năm qua, trẻ em ( và cả người lớn ) ở Nhật Bản đã từng tụ tập ngắm nhìn các nghệ nhân làm kẹo amezaiku biểu diễn tài nghệ. Chỉ với đôi bàn tay không, họ nhào nặn xi rô gạo nóng hổi thành những hình dạng tuyệt đẹp và sống động trên đầu một chiếc que. Các nghệ nhân còn có thể dùng những chiếc kéo bé tí để tạo hình các chi tiết nhỏ, kéo khối kẹo đang nguội dần để tạo ra những chi tiết như vây hay cánh. Ngày xưa, những người làm kẹo khéo tay này thường dùng những ống rơm để nhẹ nhàng thổi phồng lên những bức “điêu khắc” kẹo của mình. Nhưng người ta không có nhiều thời gian để làm những que kẹo amezaiku. Chỉ trong vòng vài phút, đường sẽ đông đặc lại vĩnh viễn, khiến các nghệ nhân phải vừa nhanh tay vừa chính xác thì mới có thể tạo nên một que kẹo ưng ý. Nhưng, thành quả – những que kẹo đầy tính nghệ thuật, với vẻ đẹp chóng tàn – thì vô cùng đáng giá.

Tuy nhiên, ngày nay, các nghệ nhân amezaiku không được phép dùng phương pháp ống rơm nữa, vì người ta sợ làm thế sẽ mất vệ sinh. Đây cũng không phải thách thức duy nhất mà họ gặp phải: ngày càng nhiều hình thức giải trí đường phố mới ra đời, thu hút người xem hơn. Nhưng những nghệ nhân amezaiku còn sót lại cũng đang thích ứng với sự chuyển biến này. Ngày nay, có nhiều que kẹo amezaiku được tạo hình vô cùng sống động và tinh xảo, như những hình ảnh thường thấy trên Instagram, chẳng hạn, những chú cá vàng giống y như thật hay những chú thỏ nhảy múa.

Những điều bạn cần biết: Một số cửa hàng, đặc biệt là ở lân cận Tokyo, vẫn còn làm và bán amezaiku.

Nơi để bạn trải nghiệm thử:

Ameshin

1F Hori bldg, 2-9-1 Hanakawado, Taito-ku, Japan

Người chủ của Ameshin, anh Shinri Tezuka được xem như một người bảo tồn nghệ thuật amezaiku.


Source: Dịch từ bài Amezaiku trên Atlas Obscura

https://www.atlasobscura.com/foods/amezaiku

 

~ DỊCH: KHÔNG ĐÙA ĐÂU (ZAKYO NI ARAZU) ~

Thực tế thì Dazai sensei không có căn hộ nào ở Hongo cả, và vì thế, không dễ xác định thời điểm diễn ra câu chuyện này. Nhưng ta có thể hình dung đây là tâm trạng của tác giả, vào khoảng mùa thu năm 1937, khi nhà văn sống một mình ở nhà trọ, sau khi ly dị cô Hatsuyo. Tháng Bảy năm đó, sự biến Lư Câu Kiều ( Sự kiện Cầu Marco Polo ) bùng nổ, châm ngòi chiến tranh Trung – Nhật nổ ra toàn diện, đánh dấu bước leo thang xung đột của Thế chiến Hai ở khu vực châu Á.


Tôi đang biến thành cái dạng gì đây? Chỉ cần nghĩ về điều này cũng đủ khiến tôi rùng mình và quẫn trí đến nỗi chẳng tài nào ở yên được, và vì thế, tôi rời căn hộ của mình ở Hongo, xách theo cây gậy chống, đi đến Công viên Ueno. Đó là một buổi chiều vào giữa tháng Chín. Bộ yukata trắng của tôi đã quá mùa, và tôi thấy mình như đang phát sáng lòe lòe lên trong đêm, “nổi” một cách kinh khủng, và điều đó đã khiến tôi suy sụp, buồn đau đến độ chẳng còn muốn sống trên đời. Một cơn gió lờ đờ thổi qua, xộc lên cái mùi nồng nồng ngai ngái nơi cống rãnh, lướt ngang qua mặt Hồ Shinobazu. Những đóa hoa sen nở trên hồ giờ đã bắt đầu tàn úa, những cái xác ghê tởm của chúng mắc kẹt giữa những cuống hoa cong queo, dài ngoằng và những khuôn mặt ngu độn của lũ người, tuy qua lại trong buổi chiều mát mẻ, nhưng lại tỏ ra kiệt lực và chán chường đến độ người ta có thể tưởng tượng rằng tận thế sắp đến nơi.

Tôi đi thẳng đến tận Ga Ueno. Qua những cánh cổng của nơi được mệnh danh là “Kỳ quan của Xứ sở Mặt Trời mọc” này, một bầy người đông như kiến, tối tăm, quằn quại đang tụ lại. Những linh hồn thất trận, tất cả bọn họ. Tôi không thể nghĩ gì khác hơn thế. Đối với những thôn xóm làm nông vùng Đông Bắc, đó là những cánh cửa dẫn xuống địa ngục. Người ta bước qua những cánh cửa đó để vào các thành phố lớn, và rồi, họ trở lại nhà, tuyệt vọng, chán chường và thất bại, chỉ còn manh áo rách bươm bám lấy tấm thân tàn. Các người đã mong mỏi, hy vọng điều gì thế? Tôi ngồi xuống chiếc ghế dài trong phòng chờ, khẽ nhếch miệng cười. Tôi cũng không nghĩ là họ sẽ không kể lại rằng, người ta đã nói với mình như vậy đâu. Ôi, biết bao nhiêu lần, các người nghe nói rằng, đến Tokyo thì cũng chẳng khá hơn chút nào đâu? Những người cha, người con gái, con trai ngồi trên những băng ghế gần chỗ tôi, nét tinh anh bị tước đoạt, chỉ còn nhìn đời qua cặp mắt mờ đục, u tối. Họ nhìn thấy những gì? Những bông hoa ma quái nhảy múa giữa không trung, câu chuyện cuộc đời của họ trải ra trước mặt như những cuộn tranh hay chiếc đèn kéo quân, với hình ảnh mặt người cùng bao thất bại, đắng cay, mất mát mà họ đã từng nếm trải.

Tôi đứng dậy, bỏ chạy khỏi căn phòng chờ, rồi bước về phía cánh cổng. Chuyến tàu tốc hành số 705 vừa đến ga, cả bầy người đen đặc như lũ kiến chen lấn, xô đẩy và ngã vào nhau khi cố xếp hàng để rời tàu. Va li và giỏ xách văng khắp nơi. A, còn có cả những chiếc túi vải nữa, vẫn còn có người dùng chúng đấy ư? Đừng nói với tôi là – các người đã bị đuổi khỏi thành thị và phải chạy đi trên xe lửa đấy.

Những chàng trai trẻ ăn vận thật bảnh bao, và tất nhiên là hơi bồn chồn và háo hức. Những gã nghèo túng đáng thương. Khờ khạo. Cãi nhau với bố một trận thôi là vùng vằng bỏ nhà ra đi. Thật dại dột làm sao.

Một anh chàng đặc biệt khiến tôi chú ý. Cậu ta có kiểu hút thuốc khá sang trọng – chắc chắn là học theo một bộ phim nào đó. Bắt chước mấy diễn viên nước ngoài. Cậu ta bước qua cánh cổng, chỉ mang theo một cái va li nhỏ, nhướng một bên mày lên và quan sát xung quanh. Vẫn còn diễn cơ đấy. Cậu ta mặc một bộ com lê sọc ca rô lòe loẹt, chiếc quần tây dài thòng, chắc phải kéo đến tận cổ. Mũ lưỡi trai trắng. Giày da màu đỏ. Cậu ta hơi trễ miệng xuống rồi thổi nhẹ hơi ra phía con đường, tỏ ra thanh lịch đến độ buồn cười. Tự dưng tôi muốn trêu anh chàng này quá. Dạo này, tôi chán đến độ phải tìm cái gì đánh lạc hướng mình thôi.

“Này. Takiya.”. Tôi có thể thấy tên cậu ta ghi trên tấm thẻ hành lý gắn vào chiếc va ly.

“Lại đây một chút.”

Chẳng buồn nhìn mặt cậu ta lấy một cái, tôi nhanh nhẹn đi về phía trước, và cậu nhóc lẽo đẽo theo sau tôi như thể đang bị hút vào vòng xoáy số phận. Tôi cũng khá tự tin về khoản nắm bắt tâm lý con người. Khi người ta đang phân tâm, cách hiệu quả nhất để thao túng họ là phải tỏ ra uy thế và hoàn toàn lấn lướt. Lúc đó, họ sẽ chỉ là bột nhão trong tay bạn mà thôi. Còn nếu như cố làm đối phương thấy thoải mái bằng cách tỏ ra tự nhiên và thuyết phục họ tin tưởng và cảm thấy an toàn, thật ra, lại có thể khiến họ trở nên cẩn thận và đề phòng bạn hơn.

Tôi đi lên Đồi Ueno. Chậm rãi bước chân lên những bậc thang đá, tôi bảo, “ Theo tôi thì cậu nên đặt mình vào vị trí của ông già nhà cậu đi.”

“Vâng ạ.”, cậu ta đáp, có chút cứng nhắc.

Tôi dừng lại ở bệ đá của bức tượng Saigo Takamori. Trừ chúng tôi ra, không ai khác ở đây cả. Tôi lấy một gói thuốc lá trong tay áo ra, châm lửa một điếu thuốc, và nhìn thoáng qua khuôn mặt cậu nhóc qua ánh lửa que diêm. Cậu ta đang đứng đó bĩu môi với đầy vẻ ngây thơ như một đứa trẻ. Tôi bắt đầu cảm thấy thương cậu ta quá và có lẽ, tôi trêu cậu ta như thế cũng đủ rồi.

“Cậu bao nhiêu tuổi ?”

“Hai mươi ba.” Cậu ta đáp, với chất giọng miền quê đặc sệt.

“Trẻ thế cơ à?”, tôi bất giác thở dài. “Được rồi. Cậu đi được rồi đó.” Tôi còn định nói là tôi chỉ muốn dọa cậu ta một chút thôi, nhưng rồi đột nhiên, tôi chẳng thể kiềm nỗi mối dụ hoặc đang dâng lên trong lòng mình, một mối dụ hoặc chẳng khác nào niềm kích động khi ta phản bội người vợ của mình. Tôi muốn trêu cậu ta thêm một chút nữa.  

“Cậu có tiền không ?”

Cậu ta có vẻ lo lắng và đáp “Có.”

“Đưa tôi hai mươi yên.” Này thì buồn cười lắm đây.

Cậu ta móc tiền ra thật.

“Tôi đi được chưa ?”

Và đương nhiên là tới lượt tôi bật cười rũ rượi và bảo, “Tôi chỉ đùa với cậu thôi. Giỡn chơi ấy mà, đồ ngốc. Giờ cậu thấy Tokyo đáng sợ thế nào chưa. Nào, về nhà đi, để cha cậu đỡ lo. ” Nhưng, thật ra thì, ban đầu tôi không chỉ muốn làm vậy cho vui. Sắp đến lúc phải trả tiền thuê căn nhà ở Hongo rồi.

“Cảm ơn nhé, tôi không quên ông đâu, ông bạn.”

Vụ tự tử của tôi được hoãn lại thêm một tháng nữa.


Source: Dịch từ bản tiếng Anh (với tựa đề là “No Kidding”) trích trong quyển Self Portraits: Tales from the Life of Japan’s Great Decadent Romantic (Ralph F.McCarthy)

Còn đây là link bản gốc tiếng Nhật cho mọi người:  https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/2261_20018.html