~ Dịch: Những người anh trai (Anitachi) ~

Khi Shuji ( tên thật của Dazai sensei) ra đời năm 1909, gia trang rộng lớn của nhà Tsushima có đến hơn mười bảy thành viên thuộc đại gia đình và cũng chừng đó người hầu trong nhà. Người anh cả của ông, Bunji, trở thành người đứng đầu gia đình vào mùa xuân năm 1923, khi cha của họ mất ở Tokyo không lâu sau khi được bổ nhiệm vào “Hội Đồng Quý Tộc” (House of Peers). Shiiji thì sắp nhập học bậc trung học ở Aomori vào thời điểm đó. Tháng Mười Một, năm 1925, Shiiji và em trai Reiji cùng nhiều bạn học đã xuất bản số đầu tiên của tạp chí địa phương Shinkiro (Thận Khí Lâu – nghĩa là “ảo ảnh, ảo vọng”). Mỗi tháng, Shiiji giữ vai trò biên tập và đóng góp những câu chuyện, bản phác thảo và tiểu luận cho tờ báo nhỏ này trong suốt một năm tồn tại ngắn ngủi của nó. Nghe nói là Keiji, người anh nhỏ tuổi nhất trong số ba anh trai của Shuji đã gọi tờ Shinkiro là “trẻ con” và đề nghị anh em mình lập ra một tạp chí “trưởng thành” hơn. Anh ta đặt tên cho tạp chí đó là Aonbo (Thanh Tử – “tuổi trẻ”), dựa trên việc chơi chữ của từ “trẻ con” trong tiếng Nhật là “akanbo”, với nghĩa đen là “xích tử”. Số đầu tiên trong hai số báo của Aonbo phát hành vào tháng Chín năm 1926.  

Reiji, người không xuất hiện trong truyện ngắn “Những người anh trai” đã qua đời vì nhiễm trùng máu vào tháng Một năm 1929, năm mười bảy tuổi. Còn Keiji thì mất vì bệnh lao vào ngày 21 tháng Sáu, năm 1930.


Khi cha tôi qua đời, anh cả của tôi hai mươi lăm tuổi và mới vừa tốt nghiệp đại học, anh hai thì hai mươi ba, anh ba hai mươi, còn tôi thì mười bốn tuổi. Những người anh của tôi đều rất tử tế với tôi, rất trưởng thành và từng trải, khiến tôi gần như không cảm thấy nỗi mất mát và trống trải khi thiếu vắng người cha. Người anh cả chững chạc y hệt như một người cha trong mắt tôi, anh hai thì như một ông chú đầy nhẫn nại, và họ lúc nào cũng hết lòng chăm chút, nuông chiều tôi. Dù những đòi hỏi của tôi có ích kỷ và ngang bướng đến thế nào đi chăng nữa, họ vẫn luôn mỉm cười và chiều theo ý tôi. Họ không cho tôi biết chuyện gì đang xảy ra và để tôi được tự do làm theo ý mình, nhưng thật sự thì bản thân họ đang phải trải qua một giai đoạn vô cùng khó khăn, phải kiểm soát gia tài hàng triệu yên mà cha chúng tôi để lại, cũng như nắm lấy tầm ảnh hưởng chính trị mà cha đã tích lũy được. Chẳng có một người chú hay ai đó có thể đứng ra, hai người anh lớn nhất của tôi không còn lựa chọn nào khác, mà phải hợp lực với nhau và cố gắng hết sức có thể. Chỉ mới hai mươi lăm tuổi, anh cả tôi trở thành thị trưởng của thị trấn, và đến năm ba mươi mốt tuổi, sau khi gặt hái thêm kinh nghiệm trên chính trường, anh ấy được bầu vào hội đồng của tỉnh.

Anh ấy là ủy viên hội đồng cấp tỉnh trẻ tuổi nhất trên cả nước, và nhờ có sự nổi tiếng này, mà báo chí gọi anh là chàng Hoàng tử Konoe của Tỉnh Aomori, và thậm chí anh ấy còn xuất hiện trong phim hoạt hình nữa.

Mặc cho những lời ca tụng, tán dương như thế, anh cả tôi lúc nào cũng trông có vẻ buồn rầu. Trái tim của anh ấy không dành cho chính trị. Tủ sách của anh tràn ngập những sách văn chương, như Oscar Wilde toàn tập và những tác phẩm của Ibsen, cũng như nhiều tuyển tập của các nhà soạn kịch Nhật Bản. Bản thân anh ấy cũng viết kịch, và thỉnh thoảng, anh gọi các anh chị em trong nhà tập trung lại vào một căn phòng và đọc một tác phẩm mới của mình cho chúng tôi nghe, gương mặt anh bừng sáng với sự mãn nguyện dâng lên từ tận đáy lòng. Lúc đó, tôi còn quá nhỏ để hiểu hết mọi chuyện, nhưng với tôi, có vẻ như, hầu hết những vở kịch mà anh đọc cho chúng tôi nghe đều mang một chủ đề chung, đó là những nỗi bi ai của số phận. Tôi còn nhớ rất rõ, những nhân vật trong một vở kịch mà anh sáng tác, rõ đến tận những biểu cảm của họ, vở kịch đó là một vở kịch dài, với tên gọi là “Cuộc đấu tranh.”

Khi anh cả tôi ba mươi tuổi, gia đình tôi phát hành một tạp chí văn học nhỏ với tựa đề khá kỳ quặc, “Aonbo” (“Thanh Tử”). Người anh thứ ba của tôi, lúc bấy giờ đang theo học tại khoa điêu khắc của một trường mỹ thuật, giữ vai trò làm biên tập viên. Cũng chính anh là người đã nghĩ ra cái tên này, và anh ấy cũng cực kỳ tự hào về điều đó. Anh cũng thiết kế bìa cho tờ tạp chí này, đó là một mớ hỗn độn khó hiểu và đầy tính siêu thực, được rải bụi bạc lên một cách có chủ đích để trang trí. Anh cả tôi viết một tiểu luận cho số đầu tiên của tờ báo. Anh đặt tên cho nó là “Cơm”, và thay vì tự mình viết, anh ấy đọc cho tôi viết thay. Tôi vẫn còn nhớ chuyện này khá rõ. Chúng tôi lúc đó ở trong căn phòng kiểu phương Tây trên lầu Hai. Anh tôi chắp tay ra sau lưng, vừa đi qua đi lại vừa nhìn lên trần nhà và bảo:

“Được chưa nào? Anh sắp bắt đầu rồi đấy. Em sẵn sàng chưa?”   

“Vâng ạ.”

“Năm nay, tôi bước qua tuổi ba mươi. Khổng Tử từng bảo, “tam thập nhi lập”, nhưng tôi, đừng nói là đứng, tôi thậm chí cảm thấy rằng mình sắp đổ gục xuống rồi. Tôi đã không còn cảm thấy rõ ràng và chắc chắn rằng đời mình đáng sống. Đến mức người ta còn có thể nói là, trừ khoảnh khắc mà tôi đang ăn cơm ra, tôi không hề thật sự “sống”. Tôi dùng từ “cơm” ở đây không mang một ý nghĩa trừu tượng nào hay biểu tượng của cuộc sống hay là ý chí sống còn, nhưng ngay theo nghĩa đen của chính nó. Một tô cơm đầy. Tôi đang nói về cảm giác khi tôi nhai nhồm nhoàm những hạt cơm trắng ngần, mềm mại trong miệng. Một sự thỏa mãn từa tự như của loài vật. Chẳng có tí gì cao thượng, hay quý phái về chuyện này…”

Lúc đó, tôi chỉ là một cậu học sinh trung học, nhưng khi tôi nguệch ngoạc viết lại dòng cảm xúc đang tuôn trào ấy của anh, tôi cảm thấy xót xa cho anh khôn tả. Người ta dành cho anh những lời tâng bốc vô tri và phù phiếm, gọi anh là chàng Konoe của xứ Aomori hay những cái tên vớ vẩn khác, nhưng chẳng ai nhận ra hay thấu hiểu nỗi cô đơn u uất thường trực trong tâm hồn của anh.  

Tuy anh hai tôi không sáng tác câu chuyện hay tiểu luận nào cho số đầu tiên của tờ Aonbo, anh ấy cũng có niềm say mê văn chương không kém. Ngay từ đầu, anh đã là độc giả trung thành của văn hào Tanizaki Junichiro, và cũng rất hâm mộ nhà thơ Yoshii Isamu. Người anh này của tôi có tửu lượng cao và tinh thần hào hiệp của một nhà lãnh đạo trời sinh, nhưng đồng thời cũng là một người rất khiêm tốn và có chừng mực, chẳng bao giờ để mình say sưa quá đà, và lúc nào cũng sẵn sàng cố vấn cho anh trai cả của tôi, cũng như luôn chuyên tâm một mình giải quyết các vấn đề mà chúng tôi gặp phải. “Anh chàng, người đã rời đi/ đến phố đèn đỏ/ chẳng bao giờ quay lại/ Liệu có thể nào/ là con người thật của tôi?” .Tôi tự hỏi, liệu đây có phải là cảm xúc dồn nén trong tim nhà thơ Yoshii, người đã viết ra những dòng này, mà anh tôi vô cùng yêu thích. Anh ấy đã từng đăng một tiểu luận về chim bồ câu lên một tờ báo địa phương, và khi nó được xuất bản, cùng với bức hình chụp anh ấy, anh đã khoe cho chúng tôi xem và đùa rằng “Ngắm đi. Nhìn anh giống dân văn chương chứ hả? Tấm này, anh trông như Yoshii Isamu phải không nào?” Anh ấy có khuôn mặt cũng khá ưa nhìn, khá giống với diễn viên kịch kabuki Sadanji. Nhưng khuôn mặt anh cả tôi thì trông thanh tú hơn, và cả nhà tôi nhất trí là anh ấy giống diễn viên Shocho. Cả hai người anh này của tôi đều biết được những sự so sánh này, và khi họ uống rượu, hai anh ấy sẽ ‘diễn” lại những cảnh trong vở “Tự tử đôi ở Núi Toribe” hay “Con ma của những chiếc đĩa” một cách nhịp nhàng, với giọng sang sảng theo kiểu diễn kịch kabuki.

Còn người đang nằm dài trên chiếc sofa trong căn phòng kiểu phương Tây trên lầu Hai là anh trai thứ ba của tôi, đang khúc khích cười chế giễu những trò kịch này. Mặc dù anh ấy ghi danh vào trường cao đẳng mỹ thuật, người anh này của tôi, với thể trạng yếu ớt, chẳng hề nỗ lực hay cố gắng điêu khắc, mà lại đắm mình vào thế giới văn chương. Anh ấy cũng quen nhiều người bạn có cùng niềm đam mê văn học, và cùng với nhau, họ lập ra một tạp chí nhỏ mang tên “Bước Ngoặt”. Anh tôi vẽ hình minh họa bìa và thỉnh thoảng cũng đóng góp vài câu chuyện nhẹ nhàng – tôi nhớ một truyện tên là “Mọi thứ đều kết thúc với một nụ cười buồn”. Bút danh của anh là Yumekawa Riichi. Yumekawa, được viết với ký tự mang nghĩa “giấc mơ” và “sông” (“Mộng Hà”), khiến cho các anh chị lớn trong nhà ngã ngửa ra cười vì nghe sao mà sướt mướt và ủy mị quá. Anh từng đặt in danh thiếp với bút danh của mình bằng chữ la tinh, và khi anh đưa một tấm được trang trí khá màu mè và kiểu cách cho tôi, tôi giật nảy mình khi thấy trên đó ghi là RIICHI UMEKAWA. Tôi hỏi anh ấy xem có phải là anh ấy đã đổi bút danh sang “Sông Mơ” hay không ( “Mơ” đây không phải là “giấc mơ” mà là “quả mơ” ), có lẽ, là để chỉ vở kịch về cô geisha Umegawa và người yêu là chàng Chubei.

“Trời đất, em nói không sai!” anh ấy thốt lên, mặt đỏ bừng vì xấu hổ. “Nó ghi là ‘Umekawa.’ Đâu phải tên anh!” Anh ấy đã đưa danh thiếp của mình cho bạn bè và giáo sư và cũng gửi chúng ở những quán trà mà anh hay lui tới. Lỗi này cũng chẳng phải do nhà in; có vẻ như chính anh tôi là người yêu cầu và chỉ rõ cách đánh vần như thế. Vì chữ “u” được phát âm là “yu” trong tiếng Anh nên đây cũng là một lỗi thông thường mà ai cũng có thể mắc phải, nhưng vụ việc này chỉ làm cho câu chuyện về bút danh của anh ấy thêm buồn cười mà thôi. Chúng tôi bắt đầu gọi anh ấy bằng những biệt danh như là Giáo Sư Sông Mơ, hay Tiên Sinh Chubei,…  

Như tôi đã nhắc đến trước đó, người anh này của tôi có thể trạng yếu ớt, và mười năm trước, anh ấy qua đời, khi mới hai mươi tám tuổi. Anh ấy có một khuôn mặt vô cùng đáng yêu. Những chị em gái của tôi rất hay đọc một tạp chí hằng tháng dành cho thiếu nữ. Trang đầu tiên của tạp chí này lúc nào cũng do một người, nếu tôi không lầm, tên Fukiya Koji vẽ. Trang bìa này bao giờ cũng có hình các cô gái trẻ với dáng người mảnh mai cùng đôi mắt to tròn, trông giống hệt nét đẹp trên gương mặt của anh trai tôi, đến mức tôi cũng thỉnh thoảng nhìn những hình vẽ này rồi ngước lên mơ màng ngắm khuôn mặt của anh, không hề ghen tỵ mà cảm thấy hài lòng, thú vị và buồn cười một cách kỳ lạ.   

Bản chất của anh ấy thì khá là nghiêm túc – thậm chí còn có thể nói là giản dị đến mức khắc khổ – nhưng sở thích của anh lại khiến anh trông như một tay kiểu cách (“les precieux”), như những chàng công tử mê văn chương, từng xuất hiện rất nhiều ở nước Pháp. Anh ấy cũng luôn giữ lấy tính hài hước, và lúc nào cũng chế giễu người khác, thậm chí ngay cả khi anh đang duy trì bầu không khí lãnh đạm và tách biệt xung quanh mình. Ai cũng bị anh châm chọc qua. Anh cả tôi đã kết hôn và đứa bé gái đầu lòng của anh chào đời ngay trước kỳ nghỉ hè, thời điểm mà tất cả những người chú, người cô còn đang đi học của bé sẽ rời những ngôi trường ở Tokyo, Aomori và Hirosaki để về nhà chơi. Chúng tôi tụ họp lại ở một phòng và tranh nhau ầm ĩ để ôm bé, nào là “Đến đây với người chú từ Tokyo của cháu nào!”, “Nào nào, tới đây, tới với cô ở Aomori nhé!”,… và lúc đó, anh ba của tôi sẽ đứng cách xa mọi người, chê đứa cháu gái mới sinh với những câu như là “Eo ơi, da nó còn đỏ hỏn kìa. Ghê quá.” Nhưng rồi, cuối cùng, anh ấy thở dài đầy cam chịu, rồi dang tay ra và nói “Nào, đến đây đi. Đến chơi với người chú từ Pháp về của cháu nào.”

Đến giờ ăn tối, chúng tôi đều ngồi vào chỗ được chỉ định cho mình, với bà nội tôi, mẹ tôi, anh cả, anh hai, anh ba và tôi ở một bên phòng, và người thư ký của gia đình, chị dâu tôi và những người chị của tôi ngồi bên đối diện. Dù là vào những ngày hè oi bức nhất đi nữa, hai người anh lớn nhất của tôi vẫn thích uống sake nóng và mang theo những chiếc khăn lau to tướng để lau khô mồ hôi rịn ra trên trán mỗi khi họ nhấp rượu. Cả hai người đều có tửu lượng khá cao, và tuy rằng hai người họ nốc hơn hai lít rượu mỗi đêm, chẳng lần nào họ say hay khó chịu. Anh ba thì chẳng bao giờ tham gia vào những chầu rượu này, nhưng sẽ ngồi một mình trước mâm, và với vẻ cao sang, quý phái, anh rót rượu vang vào một chiếc ly thủy tinh trang nhã, uống cạn, rồi cắm cúi ăn, sau đó cúi chào một cách nghiêm nghị và xin phép rời bàn, rồi biến mất. Một màn trình diễn thật tuyệt vời.

Người anh này giữ vai trò biên tập viên cho tờ Aonbo, nên anh ấy sai tôi đi thu bản thảo từ các thành viên khác trong gia đình, và khi tôi mang chúng đến cho anh đọc, anh luôn khúc khích cười với vẻ khinh bỉ. Sau khi tôi chép xong tiểu luận “Cơm” của anh cả, và hân hoan mang bản thảo đến chỗ “biên tập viên”, anh ấy liền hô hố cười như thường lệ và bắt đầu chế giễu một cách tàn nhẫn, rằng “Cái giống gì đây? Tuyên bố mới trang trọng làm sao! “Khổng Tử nói…. “ Em tin được à? Nhảm nhí thật!”. Dù anh ấy hoàn toàn cảm nhận được nỗi sầu khổ thấm đượm trong tâm hồn của người anh cả, anh ấy vẫn luôn cười nhạo anh trai mình như thế, chỉ để giữ gìn hình tượng của chính bản thân anh. Chắc hẳn là các bạn cũng muốn biết, tài văn chương của “biên tập viên” hay sỉ vả tác phẩm của người khác này giỏi đến mức nào phải không? Ừ thì, nếu bạn muốn biết đến vậy, tôi đành phải nói thật là, anh ấy chẳng giỏi lắm đâu. Mặc dù anh ấy khá thận trọng khi không đăng bất kỳ bài văn xuôi nào trong số phát hành đầu tiên của tờ tạp chí với cái tên kỳ quặc mà chúng tôi lập ra, anh ấy có sáng tác hai bài thơ trữ tình. Giờ nghĩ lại thì, tôi thật chẳng tài nào tưởng tượng nổi tiêu chí phù hợp để chúng được đánh giá là “xuất sắc” cả. Sao một người như anh ba tôi lại có thể cho đăng những câu thơ như thế được? Giờ đây, tôi chỉ cảm thấy thật đáng tiếc khi nhớ lại việc này. Tuy chẳng dễ dàng gì đâu, nhưng xin hãy để tôi giúp mọi người hình dung ra những bài thơ đó như thế nào nhé. Một bài tên là “Cây chuối hoa đỏ”.

Đó là một cây chuối hoa đỏ/ Cây chuối hoa đỏ giống như trái tim tôi… “ vân vân. Tin tôi đi, chép lại những câu kiểu như thế này không dễ chút nào. Còn bài thứ hai thì tên là “Thanh cúc” (tên một loài hoa), và nó thì thế này:

Những bông thanh cúc bé xinh ơi/ Một, hai, ba, tôi ấp ủ vào lòng…” Và cứ thế. Ai lại nghĩ ra những bài thơ kiểu như vậy chứ? Giờ đây, tôi chợt nghĩ, nếu như anh chàng bảnh bao, kiểu cách nhà mình mà suốt đời phải giấu kín những “báu vật” nho nhỏ của anh thì cũng chẳng tốt hơn chút nào đâu. Nhưng mà, lúc đó thì tôi thật sự rất ngưỡng mộ anh ấy, vì lúc nào anh ấy cũng trung thành với nguyên tắc “hài hước, giễu nhại” của mình. Và vì anh ấy cũng là thành viên của một nhóm văn học khá nổi tiếng ở Tokyo, nhóm đã cùng nhau phát hành tạp chí “Bước Ngoặt”, và cũng vì thế mà anh ấy lại càng tự hào hơn nữa với hai bài thơ này của mình, khi xem qua bản in thử ở nhà in địa phương, anh đã đọc to lên với nhịp điệu nhịp nhàng và du dương đến kỳ lạ (“Đó là một cây chuối hoa đỏ/ Cây chuối hoa đỏ giống như trái tim tôi”), thậm chí ngay cả tôi cũng dần nghĩ rằng, chúng, đại loại cũng là một dạng kiệt tác.

Tôi có rất nhiều kỷ niệm với tờ Aonbo, đắng cay có, mà buồn cười cũng có, nhưng chỉ là hôm nay tôi không muốn kể lại mà thôi. Thay vào đó, tôi nghĩ là mình sẽ kể cho mọi người nghe về cái chết của người anh này.

Khoảng hai hay ba năm trước khi mất, khi những con vi khuẩn bệnh lao bắt đầu gặm nhấm và ăn mòn cơ thể anh, khiến cuộc đời anh tôi từ dạo đó phải gắn chặt vào giường bệnh. Dù vậy, anh ấy vẫn luôn vui cười và lúc nào cũng tràn đầy sức sống, cũng chẳng hề nhập viện hay tỏ ý muốn về miền quê nghỉ ngơi. Anh thuê một căn nhà ở Totsuka, Tokyo và sống một cách thong dong, nhàn nhã, để một căn phòng cho cặp vợ chồng đồng hương ở, còn những căn còn lại thì của anh. Khi tôi học lên bậc cao trung, vào những kỳ nghỉ lễ, tôi hiếm khi về nhà mà đến Totsuka ở với anh ấy, và rồi anh em tôi sẽ cùng nhau lang thang dạo chơi khắp Tokyo. Anh ba cũng là một tay bịa chuyện thứ thiệt. Một lần nọ, khi chúng tôi đang tản bộ ở quận Ginza, đột nhiên anh ấy khẽ thốt lên và trỏ vào một quý ông bệ vệ, “A! Kikuchi Kan kìa!” một cách tỉnh bơ, khiến tôi tưởng thật và chẳng hề nghi ngờ gì cả. Lần khác, khi chúng tôi đang uống trà ở tiệm Fujiya, Ginza, anh ấy thúc khủy tay vào tôi và thì thầm, “Sasaki Mosaku kìa. Nhìn đi. Ngồi bàn ngay sau lưng em đó.” Phải tận nhiều năm sau đó, khi tôi được dịp gặp mặt trực tiếp hai nhà văn nổi tiếng này, thì tôi mới nhận ra là anh ấy đã lừa tôi. Tôi cũng nhớ ra, trong số những quyển sách của anh ấy, có một tập truyện ngắn của nhà văn Kawabata Yasunari, và trên trang bìa của quyển đó có câu đề tặng viết bằng bút lông, “Gửi Yumekawa Riichi, từ tác giả quyển sách này.” Anh ấy kể tôi nghe là ngài Kawabata đã tặng anh quyển sách sau khi hai người quen biết nhau ở khu nghỉ dưỡng suối nước nóng tại Izu hay đâu đó, nhưng giờ thì tôi cũng không thể không nghi ngờ câu chuyện này. Lần sau gặp mặt, tôi sẽ phải hỏi ngài Kawabata mới được. Sẽ tuyệt lắm nếu chuyện này là thật, nhưng theo tôi thấy thì, chữ viết tay trên lời đề tặng đó hơi khác so với nét chữ của ngài Kawabata trong những bức thư mà ngài ấy gửi tôi. Anh ba tôi lúc nào cũng trêu đùa người khác một cách vô hại như thế. Lúc nào bạn cũng phải cẩn thận, đề phòng anh ấy. Tôi cũng biết “lừa phỉnh, chơi khăm” người khác là một trong những thú vui yêu thích của các anh chàng precieux, chắc chắn là anh tôi sẽ không kiềm chế được niềm vui thú này đâu.

Anh ấy qua đời vào mùa hè sau khi tôi vào đại học. Vào dịp Tết năm ấy, anh tôi treo một cuốn thư pháp tự tay viết ở góc phòng khách, với dòng chữ “Mùa xuân này, lòng như lòng Phật/ Chẳng tìm vui nơi rượu, bánh mì.”. Khách đến thăm anh, ai cũng cười ngặt nghẽo khi thấy anh viết như vậy, còn anh tôi thì nhếch miệng cười mỉa mai. Tuy đây chắc là những lời thật lòng của anh mà không phải đùa cợt, nhưng những người bạn đó, đã quá quen với những trò phỉnh phờ của anh mà chẳng ai lo ngại cho sức khỏe của anh ấy cả. Thậm chí còn rất lâu trước khi anh ấy bắt đầu đeo một chuỗi tràng hạt trên tay và tự xưng là “bần tăng”. Anh ấy đã nói vậy, với giọng điệu vô cùng nghiêm túc, đến nỗi những người bạn của anh xem đó là một cái mốt và bắt chước theo, tự gọi bản thân mình giống như anh tôi. Nhưng mà, đối với anh ấy thì, đó không hề đơn giản chỉ là một trò đùa, mà là điều anh muốn nói, vì cho dù anh ấy có thể cảm nhận được cái chết đang đến gần, tính hài hước đã ngăn không để anh tỏ ra đau buồn một cách tự nhiên. Thay vào đó, anh ấy cố hết sức biến mọi chuyện thành một trò vui, lần chuỗi hạt như một nhà sư Phật giáo đích thực để chọc cười mọi người. Anh ấy mời chúng tôi đến Takadanobaba và dẫn chúng tôi lắc lư bước vào một phòng trà ở đó, rồi nói, đại loại như “Bần tăng thú nhận là vị tiểu thư kia đã lay động tim người mất rồi. Thật hổ thẹn làm sao, nhưng cũng là bằng cớ rằng người còn sống.” Tuy nhiên “nhà sư” này của chúng tôi cũng khá là “công tử”, và nếu như trên đường tới phòng trà, và sực nhớ ra mình chưa đeo nhẫn, anh ấy sẽ chẳng ngần ngại phóng ngược về nhà, lấy nhẫn đeo và quay lại chỗ chúng tôi, vô cùng thoải mái và tự nhiên: “Xin lỗi đã để mọi người chờ lâu.”  

Lúc tôi mới vào đại học, tôi sống ở nhà trọ tại Totsuka, chỉ cách chỗ anh tôi ở có vài bước chân, nhưng chúng tôi chỉ gặp nhau một, hai lần mỗi tuần để tránh làm ảnh hưởng đến việc học hành của người còn lại. Khi anh em tôi gặp nhau thì chúng tôi nhất định sẽ đi dạo phố, lắng nghe những người kể chuyện rakugo biểu diễn hay la cà khắp các phòng trà, và cũng trong thời gian này, anh tôi đã “cảm nắng” một cô gái. Nhưng thật không may, do cái tính thích làm dáng và tỏ ra thanh lịch của mình, mà anh ấy bị ảnh hưởng tới mức tin rằng những người phụ nữ chẳng hề hứng thú gì với mình, và cơ hội của bản thân anh thì thấp đến mức đáng thương. Cô gái mà anh thầm yêu làm việc ở phòng trà Takadanobaba. Chúng tôi hay đến đó, nhưng lòng kiêu hãnh của anh tôi đã ngăn không cho anh ấy liếc mắt đưa tình hay buông lời chòng ghẹo cô ấy một cách thô tục; anh tôi chỉ lặng lẽ, lén lút vào, uống một ly cà phê và rồi lại len lén quay ra.

Một tối nọ, anh em tôi lại cùng nhau đến phòng trà, và, cũng như thường lệ, anh ấy chẳng có chút tiến triển nào trong chuyện ái tình. Chúng tôi uống cà phê rồi đi, nhưng trên đường về nhà, anh trai tôi ghé ngang cửa hàng hoa, và mua một bó hoa cẩm chướng và hoa hồng thật to, gần mười yên. Lúc anh ấy bước ra với bó hoa to lớn trên tay, đứng tần ngần, bồn chồn và sốt ruột, mãi cho đến khi tôi, người hiểu hết những tâm tư tình cảm của anh, phóng tới, giật lấy bó hoa khỏi tay anh và chạy như bay thẳng tới phòng trà, tôi đứng ở góc khuất của ô cửa, và gọi cô gái.

“Cô nhớ ra anh trai tôi mà phải không? Cô đừng quên anh ấy nhé. Đây này, anh ấy tặng cô đấy.” Tôi nói một hơi và đưa cô ấy bó hoa, nhưng cô ta chỉ đứng ngây ra với vẻ mặt chán ngắt. Tôi thật lòng muốn đấm thẳng vào mặt cô ta. Chán nản và thất vọng, tôi nặng nề lê bước về nhà anh mình, và thấy anh ấy đã nằm trên giường, chăn bọc kín người, lòng trĩu nặng nỗi u sầu và khó chịu. Lúc đó, anh tôi hai mươi tám tuổi, còn tôi thì hai mươi hai.

Từ tháng Tư năm đó, anh tôi bắt đầu điêu khắc với niềm đam mê mãnh liệt đến lạ thường. Anh ấy thuê một người mẫu đến nhà để tạc một bức tượng bán thân lớn. Trong khoảng thời gian này, tôi ít khi đến thăm anh ấy vì không muốn quấy rầy anh, nhưng một tối nọ, khi tôi ghé qua nhà, thì thấy anh ấy đang nằm trên giường. “Anh quyết định rồi, anh sẽ từ bỏ cái tên Yumekawa Riichi”, anh ấy nói với tôi, hai má ửng đỏ. “Từ giờ trở đi, anh chỉ là Tsushima Keiji mà thôi.” (Tsushima Keiji, tất nhiên chính là tên thật của anh.) Anh ấy tuyên bố điều này với vẻ nghiêm trọng, khác hẳn với lối cư xử hài hước thường ngày của anh, khiến tôi suýt bật khóc.  

Hai tháng sau, trước khi kịp hoàn thành bức điêu khắc, anh tôi qua đời. Đôi vợ chồng ở trọ nhà anh cho tôi biết rằng có gì đó rất không ổn đang xảy ra với anh và tôi cũng nhận ra điều đó. Vì thế, chúng tôi liền hỏi ý kiến bác sĩ đang điều trị cho anh, người đã bình tĩnh cho chúng tôi biết rằng, thời gian của anh tôi, chỉ còn lại bốn, năm ngày. Tôi ngã quỵ. Liền ngay sau đó, tôi cuống cuồng gửi một bức điện tín cho người anh cả nơi quê nhà, và suốt hai đêm sau đó, trong lúc chờ anh ấy đến Tokyo, tôi ngủ lại bên người anh bệnh tật của mình, tự tay móc sạch đờm dãi nghẹn đầy trong cổ họng của anh. Khi người anh lớn nhất của chúng tôi đến, anh ấy lập tức thuê một y tá đến chăm sóc, và bạn bè bắt đầu ghé thăm anh. Nhờ vậy mà tinh thần tôi cũng khá hơn phần nào, nhưng hai đêm đó, hai đêm mà tôi đã dành từng phút từng giây ngóng trông người anh cả của chúng tôi đến nơi, chẳng khác gì địa ngục, dù là với tôi lúc ấy hay tận bây giờ. Dưới ánh đèn điện tù mù, anh Keiji bảo tôi mở hết những ngăn tủ trong phòng anh và xé hết những lá thư hay tập vở của anh, trong khi anh nằm đó nhìn tôi chăm chú với vẻ ngạc nhiên trong mắt khi trông thấy tôi vừa xé vụn những trang giấy vừa khóc nức nở. Tôi có cảm tưởng như thể chỉ còn tôi và anh là hai con người còn sót lại trên thế gian này.

Khi anh ấy trút hơi thở cuối cùng, bên anh là bè bạn, người anh trai cả của chúng tôi và cả tôi nữa, tôi điên cuồng, hoảng hốt gọi tên anh. Anh ấy đáp lại một cách rõ ràng, trong trẻo, bảo rằng: “Anh còn cái kẹp cà vạt đính kim cương và sợi dây chuyền bạch kim. Đều cho em hết đấy.” Anh ấy nói dối. Cho đến tận giây phút cuối cùng của cuộc đời mình, anh ba tôi, đã không thể bỏ được thói thích làm dáng của mình, vẫn là chàng công tử “precieux” chính hiệu, anh ấy đã cố lừa tôi một cách màu mè như thế này đây. Cái tính thích trêu chọc và chơi khăm người khác của anh ấy đã trở thành một phần không thể thiếu của con người anh, đến nỗi, có lẽ, anh cũng chẳng nhận ra. Tôi cũng biết là, thực ra, anh ấy chẳng có cái kẹp cà vạt đính kim cương hay dây chuyền bạch kim nào cả, và điều đó càng khiến cho tính thích chưng diện của anh tôi thêm buồn hơn trong mắt tôi, và rồi tôi òa khóc lên như một đứa bé. Anh trai tôi, người tuy không để lại bất kỳ tác phẩm nào trên đời, lại là người nghệ sĩ tài ba nhất. Anh trai tôi, người với khuôn mặt đẹp nhất trần đời, lại bị các cô nàng hoàn toàn ngó lơ.

Lòng tôi muốn viết một cái gì đó về anh ấy không lâu sau khi anh mất, nhưng tôi đã suy nghĩ lại và nhận ra rằng, không chỉ mình tôi đang đau buồn, suy sụp vì cái chết của anh, rằng tất cả mọi người, ai cũng phải trải qua nỗi đau như thế khi một người thân yêu của họ qua đời, và đó sẽ là lời xúc phạm cay nghiệt đối với các độc giả của tôi nếu như tôi thể hiện những cảm xúc này như thể chỉ mình tôi được phép làm vậy, và tôi thấy nhụt chí hẳn đi. KEIJI MẤT LÚC 4 GIỜ SÁNG. SÁNG NAY. Lúc anh cả của tôi, một người đàn ông ba mươi ba tuổi, viết bức điện này để gửi về nhà, anh ấy đột nhiên khóc nức nở, rồi nước mắt anh tôi cứ thế tuôn trào ra thành dòng, và cho đến tận bây giờ, mỗi khi nhớ lại cảnh anh ấy nghẹn ngào khóc như thế, thì lồng ngực ốm o, héo mòn của tôi lại quặn lên, cuộn trào cảm xúc. Đối với tôi, dù nhiều tiền của đến đâu đi chăng nữa, thì những người anh em mất cha từ quá sớm thực sự rất tội nghiệp, đáng thương.   


Source: Dịch từ bản tiếng Anh trích trong quyển Self Portraits: Tales from the Life of Japan’s Great Decadent Romantic (Ralph F.McCarthy)

Link tiếng Nhật trên Aozora cho mọi người:  https://www.aozora.gr.jp/cards/000035/files/239_20003.html