~Kỷ niệm 100 năm ngày sinh Dazai Osamu~

Dazai Osamu ( tên thật là Tsushima Shuji), sinh ngày 19 tháng Sáu, năm 1909, ở Kanagi-machi, Thành phố Goshogawara. Nhằm tôn vinh đóng góp to lớn của ông vào nền văn học Nhật Bản, cũng như  cùng các độc giả của Dazai kỷ niệm ngày sinh của nhà văn, hằng năm, vào ngày 19 tháng Sáu, tại công viên Ashino đều diễn ra lễ kỷ niệm sinh nhật của Dazai.  Những thị trưởng của Thành phố Goshogawara và Thành phố Mitaka, thống đốc Tỉnh Aomori và bà Tsushima Sonoko (người con gái lớn nhất của Dazai) đều tham dự buổi lễ. Người ta đọc những tác phẩm của ông cho các khán giả nghe, và những quả cherry Nhật Bản mà Dazai rất thích được dâng lên viếng nhà văn. Ngoài ra, một buổi triển lãm đặc biệt cũng được tổ chức ở Shayokan – Nhà tưởng niệm Dazai Osamu. Năm 2009, đánh dấu kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Dazai, một bức tượng bằng đồng của nhà văn được dựng lên ở Công viên Ashino, và có đến hơn 800 người, bao gồm cả những người hâm mộ ông lẫn những người có quan tâm khác trên khắp nước Nhật, đã đến dự buổi lễ khánh thành tượng đài. Bà Tsushima Sonoko đã kể lại những ký ức của bà về Dazai và Công viên Ashino khi nói về lễ kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của nhà văn và khánh thành bức tượng. Bà nói với những người tham dự rằng, cha bà, có lẽ đang say sưa uống rượu cùng với bạn bè trên trời trong dịp kỷ niệm này.
Bức tượng đồng này cao khoảng hai mét. Được đặt trên một bệ đá cũng cao khoảng hai mét, bức tượng khoác chiếc áo choàng và hướng mặt về Shayokan, ngôi nhà cũ của bố mẹ nhà văn. Tượng được đúc bởi nghệ nhân Nakamura Shinya, một nhà điêu khắc đoạt Huân chương Văn hóa của Nhật Bản, dựa trên một bức ảnh chụp Dazai năm 1944 khi ông đang đi dạo quanh nhà mình ở Thành phố Mitaka, Tokyo.

Thời gian: 19 tháng Sáu hằng năm
Địa điểm: Shayokan – Nhà tưởng niệm Dazai Osamu và Công viên Ashino ở Kanagi-machi
Thông tin: Bộ Giáo dục Thành phố Goshogawara
Điện thoại: 0173-35-2111

Source: http://dazai.or.jp/en/museum/festival.html

~Lễ hội hoa anh đào ở Kanagi~

ms_ev01_l

Đây là một lễ hội mùa xuân được tổ chức vào những ngày nghỉ thuộc Tuần Lễ Vàng, tại Công viên Tỉnh Ashino, nơi nằm trong top 100 điểm ngắm hoa anh đào đẹp nhất ở Nhật Bản. Có đến 2,200 cây anh đào đủ loại, chẳng hạn như anh đào Yoshino (somei yoshino – Nhiễm Tĩnh Cát Dã Anh) và anh đào Sato Zakura (Lý Anh), nở rộ trong khuôn viên rộng khoảng 125 ha của công viên, tương phản sắc nét với khoảng 1,800 cây thông đen cổ thụ bên bờ hồ Ashino. Khách tham quan cũng có thể ngắm hoa anh đào nở từ bên trong các toa xe lửa trên tuyến đường sắt Tsugaru. Ngoài ra, người ta còn tổ chức trình diễn pháo hoa trong suốt thời gian diễn ra lễ hội.

Thời gian: 29 tháng Tư đến 6 tháng Năm
Địa điểm: Công viên Ashino ở Kanagi-machi
Thông tin thêm: Phòng Công Thương Kanagi
Điện thoại: 0173-52-2611

Source: http://dazai.or.jp/en/museum/festival.html


Bonus một link mình vừa tìm được có thông tin sơ lược về các loại hoa anh đào: http://duhoc.viet-sse.vn/2009/04/cac-loai-hoa-sakura-o-nhat-ban

~ Dịch: Nghĩ về Zenzo (Zenzo o omou) ~

Kasai Zenzo (1887-1928) là một nhà văn quê ở Hirosaki, một thị trấn ở Tsugaru, nơi Dazai theo học bậc trung học. Dazai dường như có một sự đồng cảm đặc biệt với Zenzo – một người đàn ông túng quẫn và bệnh tật, người đã hi sinh mọi thứ để phục vụ cho nghệ thuật của mình để rồi nhận ra rằng mình không thể tiếp tục bám trụ lại ở Tsugaru nữa. Kon Kan’ichi, hình mẫu cho nhân vật “Kono Kaichi” trong câu chuyện này, sau này đã viết một tiểu luận, trong đó có chi tiết “Những người ở quê của Zenzo không nghĩ tốt về ông ta… Thậm chí không ai muốn kết giao với ông ấy.” Kon cũng tả lại những hành vi của Dazai trong buổi họp mặt “Mùa Thu Quê Nhà”, y như những gì Dazai đã kể trong câu chuyện này.

Bà Michiko, người vợ thứ hai của Dazai, cũng thể hiện điều này trong một tiểu luận khác:

“Với tôi, nhiều thứ mà Dazai viết là sự cường điệu thô bạo những điều đã xảy ra, hoặc thậm chí là tự biên ra nhưng lại có thể khiến người ta cảm thấy như “người thật việc thật”. Tuy nhiên, những gì diễn ra ở buổi họp mặt văn nghệ sĩ vùng Tsugaru thì được kể lại khá chính xác trong “Nghĩ về Zenzo”… Tôi nhớ là anh ấy đã ngồi xe kéo về nhà đêm đó và kể tôi nghe rằng mình đã hành động ngớ ngẩn như thế nào. Còn nữa, đoạn về người bán hoa hồng, so với những gì tôi đã chứng kiến thì cũng chỉ đúng khoảng năm mươi phần trăm.”


Cứ nói thẳng ra những điều anh nghĩ. Những điều anh phải lên tiếng, mà chẳng cần giấu giếm chi hết. Không cần bông đùa hay cười nhăn nhở một cách ngu ngốc nữa. Chỉ một lần trong đời anh thôi, hãy nói lên sự thật.

_  Nếu tôi mà mà làm theo như vậy, thì tôi sẽ phải ngồi tù lần nữa. Tôi sẽ phải lao đầu xuống biển một lần nữa thôi. Tôi sẽ phải lần nữa trở thành một gã điên. Bạn sẽ không trốn tránh tôi chứ, nếu chuyện đó xảy ra? Đúng vậy, tôi sẽ luôn luôn nói dối. Nhưng bạn là người duy nhất mà tôi chưa từng dối gạt bao giờ. Lúc nào bạn cũng nhìn thấu tôi một cách dễ dàng rồi còn gì, phải không nào? Nếu nói về những gã dối trá hiểm độc, có lẽ trong số những người mà bạn kính trọng nhất cũng có một vài gã đấy. Đúng rồi, gã đó đấy. Với tôi, gã thật kinh tởm. Tôi căm ghét hắn, quyết tâm để không trở nên giống hắn bao nhiêu thì, tôi lại thành ra giống hắn bấy nhiêu, thậm chí biến cả những lời nói thật nghe như nói dối. Vẩn đục dòng nước. Nhưng tôi không lừa bạn đâu. Một lần nữa, hôm nay, tôi sẽ kể bạn nghe một câu chuyện, không sâu sắc đâu, và còn nghe như dối trá nữa, nhưng thật ra thì đó là sự thật đấy.

Bình minh chính là đứa con của hoàng hôn. Nếu không có ánh tà dương, hừng đông sẽ chẳng bao giờ ló dạng. Hoàng hôn luôn cố nói với chúng ta rằng:” Tôi đã già yếu và mỏi mệt lắm rồi. Các bạn đừng cứ mãi ngắm nhìn tôi nhé. Đừng yêu tôi nữa. Tôi không sống lâu trên đời nữa đâu. Nhưng sáng mai, từ phía đông bầu trời, một mặt trời mới sẽ được sinh ra. Hãy hứa với tôi là mọi người sẽ làm bạn và đồng hành bên cậu ấy nhé. Tôi đã nuôi dưỡng và chăm sóc cậu ấy thật dịu dàng. Cậu ấy là một đứa trẻ xinh xắn và khỏe mạnh – thật tròn trịa và đầy đặn.” Khi hoàng hôn khẩn cầu bạn như thế, những người bạn của tôi ơi, liệu các bạn có thể chế nhạo và xỉa xói hay gọi đó là bệnh hoạn hay suy đồi không? Tên lưu manh nào mà dám vỗ ngực khoanh tay tự hào rằng “Đương nhiên tao dám” chính là gã khốn nạn nhất trần đời. Những tên ngu ngốc như bọn chúng đã biến thế gian này thành một nơi khó sống hơn bao giờ hết.

Thứ lỗi cho tôi. Thật không đúng khi nói như thế. Tôi chẳng có tư cách gì để đứng trên nhân gian mà diễn vai của một quan tòa hay thẩm phán. Tôi chẳng có quyền gì mà phán xét người ta. Tôi là đứa con của quỷ dữ. Vô phương cứu chữa. Tôi ngờ rằng tội lỗi trong quá khứ của tôi nặng nề hơn bạn gấp hàng chục, hàng trăm lần. Và ngay cả bây giờ, tôi vẫn tiếp tục gây nên tội nghiệt. Dù cho tôi có canh phòng bản thân mình đến mức nào đi nữa, thì cũng vô vọng thôi. Không một ngày nào trôi qua mà tôi không làm chuyện xấu. Tôi có thể phủ phục trước Thượng Đế, tự trói chặt hai tay và cầu nguyện một cách thành tâm, nhưng, dù có như thế thì, trước khi tôi kịp nhận ra, trước khi tôi nhận ra, thì tôi đã phạm phải một tội lỗi vô cùng tồi tệ rồi. Tôi là một gã đáng bị quất roi. Quất cho đến khi da bật máu; tôi chỉ có thể câm nín mà chịu đựng.

Mặt trời không hiện ra trước thế gian với nụ cười xấu hổ và khó coi như lúc hoàng hôn. Nó xuất hiện với vẻ tròn trịa và đầy đặn, với lòng nhiệt thành thơ ngây tỏa ra rạng ngời, cùng với niềm tin chắc chắn rằng những ước vọng của mình sẽ được toại nguyện. Nó đã trải qua một thời hoàng kim tỏa sáng chói lòa khi nhẩn nha, thong thả lướt ngang bầu trời. Giờ nó đã già yếu, nhưng nó không sinh ra như thế. Nhận thức về sự xấu xa và tội lỗi – cái xấu, cái ác của chính bản thân mình – đã khiến nó yếu đi. “Xưa thì ngự tại ngôi vương / Nay thì ngồi ở trong vườn ngắm hoa.” Một người bạn của tôi đã viết những dòng này.

Vườn nhà tôi cũng có những khóm hoa hồng. Cả thảy tám khóm như thế. Nhưng chẳng bông nào nở. Tôi bị lừa mua những bông hồng này. Cú lừa này giả dối tới mức gần như là tống tiền tôi vậy, và đã khiến tôi buồn khôn tả.

Đầu tháng Chín, tôi dời nhà từ Kofu về Mitaka. Ngôi nhà mới này nằm giữa khu đất nông nghiệp, và hình như tôi ở đây được bốn ngày thì vào khoảng buổi trưa của ngày thứ tư, có một người phụ nữ nhà nông đột nhiên xuất hiện trước sân nhà tôi và “ Chào ngài!” với giọng xun xoe ngọt xớt. Lúc đó, tôi đang viết thư, nhưng tôi đã dừng bút và quay sang nhìn mụ ta. Đó là một người phụ nữ to béo, đẫy đà, khoảng ba mươi lăm hay ba mươi sáu tuổi. Khuôn mặt mụ hơi đen với gò má đầy đặn, trông như một hạt dẻ khổng lồ , cùng cặp mắt ti hí lóe lên nhìn tôi khi mụ ta nhe hàm răng trắng của mình ra với nụ cười ghê tởm. Tôi lờ mờ nhận ra rằng một chuyện gì đó khiến mình khó chịu sắp phát sinh, thế nên tôi lờ đi không đáp lại, mà chỉ chờ xem mụ ta nói gì.

Mụ cúi chào tôi thật sâu, rồi liếc nhìn lên khuôn mặt tôi “Chào ngài”, mụ lặp lại. “Chúng tôi là những người nông dân ở khu đất quanh đây. Người ta sắp xây một ngôi nhà trên mảnh đất này, và ngài xem, những bông hồng này, chúng tôi phải đào chúng lên, ôi chúng thật đáng thương, chỉ vì chúng nằm ngay trên mảnh đất đó. Chúng tôi thật đau lòng khi vứt chúng đi như thế, nên chúng tôi tự hỏi là, liệu ngài có thể thương tình cho chúng tôi trồng chúng lại trong vườn của ngài không. Chúng tôi đã trồng những khóm hoa này sáu năm nay rồi – ngài hãy nhìn xem, rễ chúng dày thế này này – và mỗi năm, chúng đều nở những đóa hoa thật xinh đẹp. Tôi thề đấy, chúng tôi làm ở ngay đây, nên chúng tôi sẽ thường xuyên ghé qua và chăm sóc chúng cho ngài. Chúng tôi có đủ mọi loại hoa trên cánh đồng của mình, cả thược dược và tu líp nữa, thưa ngài, ngài chỉ cần cho chúng tôi biết, chúng tôi sẽ mang đến trồng cho ngài ngay. Nếu không vì chúng tôi tin rằng ngài là một người tốt bụng, chúng tôi sẽ không xin ngài nhận những khóm hoa của mình đâu. Chúng tôi rất quý nơi này, và chúng tôi cũng biết ngài là người tốt, và vì thế nên chúng tôi mới xin ngài giúp đỡ.”

Mụ ta cố nói với giọng dè dặt. Tuy nhiên, tôi thừa biết là mụ đang dối gạt mình. Người chủ nhà của tôi sở hữu toàn bộ khu đất quanh đây. Chính ông ta đã nói điều này với tôi khi tôi thuê căn nhà. Tôi cũng biết mặt hết các thành viên trong gia đình ông ấy, gồm một ông già, người con trai, con dâu và cháu nội ông ấy. Chẳng có một ai trông như “người phụ nữ nông dân” thô tục và gian xảo này. Chắc chắn là mụ đoán rằng tôi mới dọn về đây bốn hôm trước, nên tôi có lẽ không biết hết người khu này và chắc là tôi dễ bị lừa lắm. Ngay cả cách ăn vận của mụ ta cũng thật lố bịch. Bộ quần áo dành cho người hầu không dính một vết bẩn, được thắt gọn gàng bởi chiếc khăn quấn màu oải hương, cùng một chiếc khăn quấn đầu, găng tay và xà cạp màu xanh sẫm, với đôi giày rơm mới toanh, cả chiếc áo lót bông nữa – tất cả đều hoàn hảo. Đúng hình mẫu người phụ nữ nông dân mà bạn sẽ bắt gặp trên sân khấu. Tôi dám chắc rằng mụ ta là một kẻ lừa đảo, và đây chính là trò bịp thuộc loại xấu xa nhất. Điều đáng kinh tởm nhất là giọng điệu và thái độ của mụ ta còn có cái vẻ làm dáng một cách thô bỉ nữa. Nhưng tôi lại không thể ngắt lời hay đuổi mụ ta đi.

“Cô quả là tốt bụng khi chịu khó đến vậy. Liệu tôi có thể xem qua những khóm hoa này không?” Những từ ngữ lịch sự thốt ra từ chính miệng tôi khiến tôi giật mình. Tôi cảm thấy cơ thể mình trở nên vô lực, mỏi mệt và đầy cam chịu – chỉ là do “vận may” của tôi làm tôi bị nhắm vào như là một gã khờ dễ bịp – và tôi thậm chí còn cố nặn ra một nụ cười miễn cưỡng khi bước ra hành lang. Tôi, chính tôi là một gã mềm yếu đầy đê tiện; tôi có quyền gì mà chỉ trích người ta. Những khóm hoa hồng được gói trong chiếc chiếu rơm, tám khóm cả thảy, mỗi khóm cao chừng hơn ba mươi centimet. Chẳng khóm nào có hoa. Cả nụ cũng không.

“Cô có chắc là chúng sẽ-”

“Chúng sẽ nở, sẽ nở mà”, mụ ta đáp trước khi tôi kịp dứt lời, cố mở to cặp mắt ti hí của mình hết mức có thể. Cặp mắt của mụ âm ẩm, cứ như là nước mắt chực trào ra. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Mụ ta đích thực là một kẻ lừa đảo. Khi người ta đang nói dối, mắt họ lúc nào cũng ươn ướt – không ngoại lệ.  “Vâng, đúng vậy, ôi, mùi hương của chúng mới tuyệt làm sao. Đây là hoa màu kem. Đây thì màu hồng. Còn đây thì màu trắng…” Mụ ta cứ thế mà huyên thuyên không ngừng. Một đặc điểm kỳ lạ khác ở bọn hay nói dối là chúng không tài nào im lặng được dù chỉ trong một chốc.

Tôi cố hỏi một cách thận trọng, như thể là đang chạm vào vết thương lòng của người ta: “Có phải là những khu đất quanh đây đều của cô không?”.

Mụ ta liền đáp với giọng khá chói tai: “Vâng, thưa ngài. Vâng, đúng vậy.” rồi gật đầu liên tục, hai rồi ba lần.

“Ồ thế tức là cô sắp xây một căn nhà mới à. Bao giờ thế?”.

“Họ sẽ khởi công nay mai rồi, thưa ông. Nghe đâu còn là một căn thật to nữa. Ha, ha, ha.”, mụ ta cười váng lên như đàn ông.

“Ồ, không phải nhà cô ư? Cô bán mảnh đất đó cho người khác à?”

“Vâng đúng vậy. Chúng tôi bán mảnh đất đó đi rồi.”

“Thế một tsubo đất ở đây giá bao nhiêu vậy? Tôi không nghĩ là nó rẻ đâu.”  

“Ồ, một tsubo, ừm, tận hai  mươi hay ba mươi yên đấy, tôi đoán vậy. Hê, hê.” Dù mụ ta bật cười khúc khích đi nữa thì cũng không ngăn được mồ hôi rịn ra trên trán. Mụ ta đang cố hết sức rồi.

Tôi bỏ cuộc. Tôi quyết định không trêu mụ thêm nữa. Tôi cũng nào khác chi, từng cố nói ra những lời dối trá rõ như ban ngày mà vẫn cố bám víu thật chặt vào chúng dù biết rõ rằng ai cũng nhìn thấu được mình. Và tôi cũng nhớ rõ những giọt nước mắt nóng hổi và lạ lùng đã dâng lên trong khóe mắt mình khi tôi làm thế.

“Được rồi. Nếu được thì cô trồng chúng giúp tôi nhé. Cô muốn bao nhiêu tiền?”

“Tiền ư? Ôi trời ơi, tôi không phải đến đây để bán chúng cho ngài đâu. Chỉ là, chúng tôi thấy tội cho những bông hồng này mà thôi.”, mụ đáp, cả khuôn mặt bừng sáng với nụ cười. Rồi mụ ta vươn người về phía tôi và hạ giọng, “Vậy là năm mươi sen một khóm nhé.”

Tôi gọi vợ mình, người đang khâu vá ở phòng bên, “Trả tiền cho người này nhé em. Anh mới mua hoa hồng.”

Người “nữ nông dân” giả, trồng những khóm hoa hồng cho chúng tôi, rồi cảm tạ một cách chân thành, sau đó ra về. Tôi đứng trên hành lang, ngây ra nhìn tám cây hoa.

“Người phụ nữ đó là đồ lừa đảo.”, tôi nói với vợ mình. Tôi có thể cảm thấy mặt mình đang đỏ bừng lên. Mặt tôi nóng ran đến tận hai tai.

Vợ tôi bình tĩnh đáp, “Em biết ngay từ đầu rồi. Em đang định ra ngoài và từ chối mụ ấy, nhưng anh đã bước ra hành lang và bảo mụ ta cho mình xem. Em không tính đóng vai mụ phù thủy khi anh là chàng bạch mã hoàng tử đâu. Nhưng mà em ghét mất tiền oan. Tận bốn yên, thật quá thể. Mình bị cướp tiền rồi. Là lừa đảo đấy anh. Em thật buồn nôn.”

“Ồ, ừ. Ít ra thì mình còn có mấy cây hoa hồng.”

Chúng tôi còn có mấy cây hoa hồng. Dù đây chỉ là một điều hiển nhiên thôi, nhưng nó vẫn mang đến cho tôi dũng khí phi thường. Bốn năm ngày sau đó, tôi dành hết thời gian của mình cho những cây hoa. Tôi lấy nước vo gạo còn thừa tưới cho chúng. Tôi dựng những cọc tre để chống cho chúng khỏi ngả nghiêng. Tôi cẩn thận ngắt bỏ từng chiếc lá héo úa. Tôi tỉa cành. Tôi diệt sạch những con bọ bé tí màu xanh trông như loài bọ nhảy. Đừng chết nhé. Đừng chết. Hãy cắm rễ thật sâu, tôi đã cầu nguyện như thế với nỗi lo âu run rẩy trong lồng ngực. Và, quả thực, bằng cách nào đó, những cây hoa đã sống sót.

Sáng, trưa và chiều, tôi đứng trên hành lang, ngắm nhìn những khu đất phía bên kia hàng rào, với niềm hi vọng ngày một leo lắt dần. Tôi sẽ hạnh phúc biết bao nếu người phụ nữ đó thật ra không phải là kẻ lừa gạt, và sẽ xuất hiện bất ngờ trên những cánh đồng. “Hãy tha thứ cho tôi, tôi đã tin rằng cô là một kẻ lừa đảo. Không tin tưởng người khác là một điều thật tồi tệ, phải không?”. Và như thế, với một niềm vui to lớn trong lòng, tôi sẽ xin lỗi, và thậm chí là tôi còn có thể rơi nước mắt với lòng biết ơn Thượng Đế vô hạn. Mặc kệ những bông hoa tu líp hay thược dược đi. Tôi chẳng cần những gì như thế. Tất cả những điều mà tôi mong muốn là được nhìn thấy cô đột nhiên xuất hiện trên cánh đồng, lao động cần mẫn. Đó sẽ là sự cứu rỗi cho tôi. Hãy xuất hiện đi mà, cho tôi thấy mặt. Tôi đã đứng thật lâu trên hành lang, lướt mắt nhìn khắp cánh đồng bên kia bờ giậu, nhưng tất cả những gì mà tôi thấy chỉ là lá khoai tây đúng đưa trong gió thu, và thỉnh thoảng, ông chủ đất già thong thả tản bộ, chắp tay sau lưng, kiểm tra mọi việc.

Tôi đã bị lừa. Chẳng còn ngờ vực gì nữa. Tôi phải dồn hết niềm tin và hi vọng của mình vào những bông hoa mà những cái cây khẳng khiu, gầy gò này sẽ nở. Kết quả của sự khuất phục. Một nửa trong tôi đã chấp nhận cái khả năng rằng chúng sẽ không nở nhiều hoa. Tuy vậy, hoảng mười hôm sau, một người bạn của tôi, một họa sĩ làng nhàng theo trường phái hội họa kiểu Tây phương, đã đi bộ đến nhà tôi ở Mitaka, và cho tôi biết một thông tin mà tôi không tài nào ngờ đến.

Nhưng tôi nói hơi sớm rồi nhỉ. Vào lúc mà những chuyện này xảy ra, thì đồng thời, tôi cũng nhận được một lời mời từ văn phòng ở Tokyo của một tờ báo nổi tiếng của Tỉnh Aomori, vùng đất nơi tôi sinh ra.

“Chúng tôi tin rằng lá thư này sẽ được chuyển đến tận tay ông. Mùa thu đã đến trên xứ sở Tsugaru, và cả những cánh đồng lúa vàng ươm cùng những vườn táo đỏ tươi sai trĩu cũng sắp cho vụ mùa bội thu trong bốn năm liên tiếp. Chính nhằm thể hiện tấm lòng biết ơn đến sự may mắn trời ban này, chúng tôi đã quyết định tài trợ một buổi họp mặt những người con của vùng đất Aomori đang hoạt động văn nghệ thuật ở Tokyo này. Chúng tôi chân thành mong ông có thể dành ra chút thời gian từ lịch làm việc bận bịu của mình để tham dự cùng chúng tôi vào buổi chiều hôm đó, cùng trao đổi về những ấn tượng đối với Tokyo và hồi ức quê nhà…” Và còn nhiều thứ khác nữa. Lời mời với những ngôn từ lịch thiệp này được in trên một mặt của tấm bưu thiếp trả trước, cùng với ngày giờ diễn ra buổi họp mặt. Tôi viết “Sẽ tham dự.” lên rồi gửi lại cho họ.

Tại sao một kẻ như tôi, kẻ đã từ lâu xem quê hương mình là một nơi kinh khủng, lại nhận lời? Có tất cả là ba nguyên nhân.

Thứ nhất đó là, sự thực thì, từ lúc còn bé, tôi đã luôn sợ hãi những lúc họp mặt đông người. Và thật không may, đó chính là thiếu sót to lớn trong tính cách của tôi. Nỗi sợ này không hề giảm đi theo năm tháng, mà theo thời gian, khi tôi ngày một lớn lên và già đi thì nó ngày một trầm trọng, thậm chí tới mức tôi viện cớ để tránh tham gia cả những cuộc họp mặt mà tôi nhất định phải hiện diện. Kết quả là tôi bị xem như kẻ không nghiêm túc thực hiện bổn phận của mình với người khác và thậm chí còn mang tiếng là kẻ hợm mình, tự đắc. Vì thế mà gần đây, tôi đã quyết định là từ rày về sau, tôi sẽ nỗ lực hết mình hoàn thành nghĩa vụ của một công dân bằng cách có mặt trước mọi người khi bị yêu cầu và thể hiện cảm nghĩ của mình rõ ràng và chân thành nhất có thể.

Nguyên nhân thứ hai là tôi mắc nợ một người đàn ông tên Kawauchi. Đó là vị tổng biên tập của tòa soạn gửi thiệp mời cho tôi, và tôi đã từng khiến ông ấy phải lo lắng cho mình rất nhiều vào lần tôi bị bệnh lúc năm năm trước. Ngài Kawauchi là một người quen của tôi từ hồi tôi còn học trung học và đã luôn lén lút giúp đỡ và ủng hộ những tác phẩm của tôi dù chúng bị vùi dập tả tơi dưới bàn tay của những nhà phê bình. Sau khi tôi ngã bệnh, tôi mượn tiền từ tất cả mọi người, mượn như điên, và tuy tôi có cố gắng trả dần từng chút một cho họ từ dạo ấy, tôi vẫn chưa trả dứt cho họ. Chính trong khoảng thời gian đó, tôi gần như loạn trí, và đã gửi một lá thư cho ngài Kawauchi, đương nhiên cũng là hỏi vay tiền. Ông ấy ngay lập tức gửi thư đáp lời tôi, và hóa ra, đó là một lời từ chối thẳng thừng, nhưng nhờ đó mà tôi dù sao cũng vô cùng cảm kích. Dù tôi chỉ là một người “cạo giấy” nghèo nàn, người đàn ông tốt bụng này đã chịu khó giải thích tình cảnh của mình một cách rõ ràng và chân thật, và cho tôi biết rằng ông ấy không muốn dông dài và do dự khi chắc chắn rằng ông ấy không thể giúp tôi, và vì thế, ông ấy đã quyết định từ chối tôi mà không vờ đưa ra những lời hứa hẹn hay điều kiện. Đằng sau những câu chữ ấy, tôi cảm thấy được lòng tự trọng mạnh mẽ của người đàn ông, mà ngay cả tôi, kẻ đang bị đày đọa trong nỗi khổ lụy của chính mình, cũng có thể cảm kích được. Tôi vẫn chưa quên cảm giác ấy. Không còn nghi ngờ gì nữa, lời mời này đến từ ngài Kawauchi. Nếu tôi viện cớ và không đi, ông ấy có thể cho rằng tôi từ chối vì ông ấy đã không cho tôi vay tiền khi đó. Ừ thì, không đâu, chắc chắn ông ấy không nghĩ vậy đâu, nhưng rất có thể, ông ấy sẽ cảm thấy nghi ngờ, dù chỉ là một tia ngờ vực nhỏ nhất thôi thì cũng khiến cho tôi cảm thấy đau đớn vạn lần hơn cả cái chết. Tôi tuyệt nhiên không ôm hận hay căm ghét gì ông ấy. Sự thực là tôi vẫn còn mang ơn ông ấy nhờ lá thư đó. Và cũng vì nguyên nhân này, tôi, bằng bất cứ giá nào, phải tham dự buổi họp mặt.

Nguyên nhân thứ ba nằm ở chính lời mời. “Những cánh đồng lúa vàng ươm cùng những vườn táo đỏ tươi sai trĩu…”. Tôi cũng là một người con của vùng đất Tsugaru. Đọc lên những từ này, tôi như thấy hiện ra trước mắt mình cảnh đồi núi chập chùng và những con sông quê cuộn chảy. Hơn mười năm qua, tôi chỉ về quê đúng một lần. Vào mùa đông tám năm trước… Ôi, đó cũng là một khoảng thời gian đầy đau khổ. Tôi bị triệu tập bởi Văn phòng Công tố Aomori, và một mình tôi đón tàu tốc hành từ Ga Ueno đi Aomori. Tôi nghỉ lại qua đêm gần suối nước nóng Asamushi, và tảng sáng, dưới những cụm mây đen như mực đè nặng xuống mặt đất, tôi lặng lẽ ngắm nhìn đám tuyết trắng bị thổi bay ra mặt biển xám xịt với những cơn sóng cuồn cuộn xô bờ rồi vỡ tan ra thành những mảnh pha lê lấp lóa. Ôi, tôi nghĩ, đừng bao giờ trở lại nơi này! Tôi đã quyết chí để không gì có thể kéo tôi về đây nữa.  Tôi đến Aomori và trình diện ở văn phòng công tố. Ở đó, tôi đã bị tra hỏi rất nhiều. Đến khoảng nửa đêm, tôi cuối cùng cũng được thả ra, và khi tôi bước ra từ cửa sau của tòa án, gió tuyết lạnh lẽo quật vào má tôi như hàng vạn mũi tên, thốc tung vạt áo choàng của tôi để cái rét như kim châm luồn vào da thịt. Đứng giữa con phố giá băng vắng lặng ngay trên mảnh đất quê nhà, cảm giác cô đơn đến tận xương tủy của kẻ độc hành hay của cô bé bán diêm trong truyện cổ tích thấm sâu vào tâm hồn tôi, để rồi bùng lên thành ngọn lửa phẫn nộ, tôi tự hỏi – Ra đây là nhà của mình ư? Đây chính là quê hương yêu dấu của mình đấy ư? Dưới những con phố không một bóng người và u tối ấy chỉ có tiếng gió gào thét vọng lại, tôi khom vai vội vã lao vào màn tuyết trắng trắng xóa, và tìm đường trở về Ga Aomori. Tôi chỉ dừng chân để ăn một bát mì Trung Hoa ở quầy hàng trước ga, rồi lại vội vã lên tàu về Ueno mà chẳng buồn gặp một ai nơi quê cũ. Trong suốt mười năm ròng, tôi chỉ nhìn thoáng qua quê hương mình như thế đó. Giờ đây, tâm hồn tôi đã trở nên tê dại sau bao năm đau đớn giày vò, tôi hoàn toàn quên mất nỗi căm ghét của mình với nơi đó khi tôi đọc những từ ngữ phỉnh phờ về những cánh đồng vàng ươm và những quả táo đỏ. Và tôi chệnh choạng viết mấy từ: “Sẽ tham dự.”

Mỗi ngày trôi qua, sau khi tôi gửi lời phúc đáp của mình, tim tôi ngày một bị thắt chặt bởi nỗi lo lắng, bồn chồn gây ra bởi quan niệm về “thành công vật chất”. Việc tôi được tờ báo này mời cũng giống như một anh chàng địa phương thành công trở thành một nghệ sĩ – chẳng phải là nó cũng hơi hơi giống như một đứa con hoang toàng được dịp áo gấm về làng sao? Khá vinh dự đấy chứ, thật đấy. Điều đó có nghĩa là, tôi đã trở thành một người lỗi lạc rồi, phải không? Mỗi khi hững ý nghĩ như thế hiện ra trong đầu tôi, tôi lại không thể ngăn mình trở nên bối rối, bất an và xao động. Chắc chắn rồi, tôi, một kẻ mà tiếng xấu đã trở thành “huyền thoại”, đã bị biến thành đối tượng của một trò chơi khăm hèn hạ – họ cố tình ở trước mặt thì nâng tôi lên thành nhân vật nổi danh, xuất chúng, để rồi sau lưng tôi, họ có thể thè lưỡi ra, thúc khủy tay của nhau, nháy mắt ra hiệu và cười khẩy tôi đầy khinh miệt. Tin chắc rằng đây chính là những gì sẽ xảy ra, tôi tuyệt nhiên không thể bình tĩnh được nữa. Chẳng có một ai ở quê đọc sách của tôi. Hoặc là, dù họ có đọc đi chăng nữa, chắc chắn rằng họ chỉ đơn thuần là nhếch miệng cười và cảm thấy thương hại cho cái bản chất xấu xa, đê tiện của nhân vật chính, kể lại những điểm xấu của y cho người khác nghe, lắc đầu ngao ngán, và chế nhạo, khinh bỉ tôi vì đã đem lại nỗi ô nhục cho quê hương mình.

Một lần nọ, vào bốn năm về trước, tôi tình cờ chạm mặt anh trai cả của mình ở Tokyo, anh ấy bảo tôi đừng gửi sách cho họ hàng nữa. Anh ấy bảo, “Ngay cả anh cũng chẳng muốn đọc. Khi mà họ hàng mình đọc những gì em viết, em biết là họ… như thế nào không?”. Anh ấy không nói hết lời, nhưng cúi đầu, như thể những từ ngữ ấy đã mắc kẹt trong cổ họng, không thốt lên được, nhưng như thế cũng đã đủ cho tôi hiểu rõ hết mọi chuyện rồi. Tôi còn sống ngày nào thì tuyệt không có ý định gửi bất kỳ quyển sách nào của mình về quê nữa. Ngay cả những nhân vật nổi danh trên văn đàn ở quê, chỉ trừ mỗi Kono Kaichi, cũng xem tôi là thằng hề ngu ngốc. Và những nghệ sĩ khác, không hoạt động văn chương, như những họa sĩ và các nhà điêu khắc chẳng hạn, chắc chắn là họ cũng rất sẵn lòng tin vào những lời lên án và lăng mạ tác phẩm của tôi để rồi mỉm cười với với vẻ trịch thượng và thương hại. Không, tôi không hề mắc chứng phức cảm bị hành hạ. Mà đây cũng không đơn giản chỉ là lối nhìn đời bi quan, yếm thế của tôi. Sự thật có khi còn tệ hơn những gì tôi đang viết ra bây giờ nữa. Và đó chỉ là những “đồng chí” của tôi trong giới văn nghệ thôi. Còn những người khác ở dưới quê nữa, bạn nghĩ xem, tiếng xấu của tôi còn tệ đến mức nào đây? Ngồi quanh lò sưởi, họ rỉ tai nhau “À, tôi nghe nói là cậu út nhà Tsushima đã trở thành một nỗi ô nhục ở dưới Tokyo đấy.”. Ở một mức độ nào đó thì tôi chỉ tưởng tượng được tới vậy; rồi họ cời than, đun sôi ấm trà, và chuyển chủ đề sang lễ hội mùa thu sắp đến hay gì đó.

Trong lúc đó, chẳng hề hay biết gì về tình cảnh thảm hại này, anh nhà văn ngu ngốc và nghèo túng này, nhận được thiệp mời từ một tòa soạn ở quê mình và nhận lời ngay tắp lự, khúc khích cười khoái chí, và nghĩ, à, à, xem ra mình cũng thành công ra phết chứ nhỉ. Đáng thương tới mức nào, bạn có thể hiểu mà đúng không? Thành công? Áo gấm về làng? Giống con lừa khoác tấm da sư tử thì có. Một trò cười đúng nghĩa. Khi tôi nhận ra điều này, tôi phát điên lên vì nhục nhã. Tôi đã làm gì cơ chứ? Lẽ ra tôi phải nói là tôi không tham dự được. Hoặc là, không, vấn đề không phải là sẽ đi hay không – mỗi việc tôi hồi âm đã biến tôi không khác một ả gái điếm hèn hạ rồi. Phải giả vờ như không biết chuyện có thiệp mời và trốn trong một góc xấu hổ, thu mình lại run rẩy, mới đúng là những gì mà một kẻ như tôi nên làm.

Tôi vô cùng căm ghét sự nhu nhược và cẩu thả đã khiến mình tự dưng nhận lời. Giờ thì đã quá muộn. Giờ đây, bởi chính sự ngu xuẩn của mình, mà tôi, không còn lựa chọn nào khác, phải cố vực dậy lòng can đảm của mình, vận bộ hakama đẹp nhất mà tôi có, và xuất hiện ở buổi họp mặt trong tư thế ngẩng cao đầu. Để bọn họ cười đi, để bọn họ làm hết những trò tồi tệ và xấu xa nhất, tôi vẫn sẽ trơ ra đấy, diễn lấy cái vai của một nhà văn tài ba lỗi lạc, thậm chí có lẽ là tôi còn đọc một bài diễn văn thật dài nữa chứ, và như là sự liều lĩnh trong cơn tuyệt vọng, ngọn lửa đấu tranh bùng cháy trong tôi. Sức mạnh là thứ quyết định ở trên đời, tôi tự nhủ; nếu một người vẫn luôn kiên trì, bền bỉ xăm xăm tiến về phía trước dù gặp phải bao khó khăn, nhọc nhằn, thì sẽ không còn ai dám cười nhạo anh ta nữa. Ôi, thiển cận nhất chính là sự trơ trẽn! Đột nhiên, sáu biến thành chín, một kẻ từng bị sỉ vả, mắng nhiếc không tiếc lời, nay trở thành đối tượng của những lời ngợi ca và tôn vinh giả tạo, người ta bắt đầu xun xoe bợ đỡ y và lén la lén lút tỏ lòng kính trọng. Nhưng, dù tôi cố kích động chính mình, tự nhủ với bản thân rằng mình sẽ hiên ngang bước vào đó trong bộ hakama và phát biểu một bài diễn văn, tôi thừa biết rằng tất cả những điều này là không thể. Tôi đã gây ra nhiều khổ đau cho mọi người. Tôi chẳng viết được cái gì ra hồn cả. Toàn khoe khoang, khoác lác mà thôi. Bất lương. Hèn nhát. Dối trá. Phóng đãng. Nhút nhát. Tôi chẳng cần chờ đến khi Thượng Đế trừng phạt mình, tôi đã luôn phun ra những lời biện hộ nửa vời ngu ngốc.

Hãy để tôi thú nhận sự thật này. Tôi muốn được nhìn thấy bản thân mình mặc bộ hakama. Tôi đã trở nên hưng phấn và kích động, tim tôi đập thình thịch khi tưởng tượng ra chính mình đang diễn thuyết một cách hùng hồn, khiến cho người nghe vô cùng chấn động, và rồi đột nhiên, tôi tỉnh mộng và nhận ra mình chả là gì hết, một kẻ vô dụng, tôi bỗng ước mình có thể chui luôn vào một cái lỗ rồi biến mất, nhưng sau đó, một lần nữa, ngực tôi lại căng lên và tôi không tài nào dứt bỏ lòng quyến luyến thế gian này, tôi đã nghĩ – ừ thì, ít ra hãy để tôi được mặc hakama ra phố. Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ mặc một bộ hakama thật chỉnh tề. Tốt nhất là tôi đừng nên cười nhiều, vì tôi trông vô cùng xấu xí với những cái răng sún, tôi sẽ mím môi và ngậm miệng thật chặt, và khi tôi mở miệng nói chuyện thì tôi sẽ nói thật rõ ràng, xin lỗi vì đã không giữ liên lạc với mọi người suốt một khoảng thời gian dài. Nếu tôi làm như vậy, biết đâu, có lẽ, những người ở quê tôi sẽ nghĩ rằng, tại sao thế, cậu út nhà Tsushima cũng là một người đàn ông đứng đắn và đàng hoàng ấy chứ, chẳng giống chút nào với những lời đồn thổi mà mình nghe. Tôi sẽ đi. Tôi sẽ khoác lên mình bộ hakama và đến dự. Tôi sẽ chào hỏi mọi người một cách rõ ràng và sôi nổi, rồi ngồi vào chỗ của mình ở hàng ghế cuối cùng, cư xử thật khiêm tốn và có chừng mực, và người ta sẽ thấy tôi là một anh chàng tuyệt vời, và họ sẽ truyền tai nhau, người này qua người kia, và những lời khen đó sẽ dần dần lan khắp quê tôi, cách đó 500 dặm, và mang lại một nụ cười dịu dàng trên đôi môi người mẹ đang đau ốm của tôi. Đây chính là cơ hội ngàn năm khó gặp trong đời. Tôi sẽ đi, tôi sẽ mặc bộ hakama và đi, tôi tự nhủ với chính mình, ngực tôi căng lên vì phấn khích. Tôi chỉ không thể nào từ bỏ quê hương mình. Dù tôi bị khinh rẻ, căm ghét đến mức nào đi nữa, tôi cũng không đành lòng quay lưng lại với quê hương. Nỗi khát khao âm ỉ cháy trong tim tôi suốt bốn năm từ khi tôi khỏi bệnh giờ đã bừng lên thành một ngọn lửa mãnh liệt. Sâu thẳm trong linh hồn tôi vẫn luôn ấp ủ một giấc mơ về sự trở lại huy hoàng của đứa con hoang toàng. Tôi yêu quê mình. Tôi yêu tất cả những con người ở quê!

Ngày hẹn đã đến. Trời mưa như trút nước từ sáng sớm, nhưng điều đó chẳng thể khiến tôi dùng dằng hay do dự. Tôi có một bộ hakama. Đó là một bộ hakama khá đẹp nữa. Bằng lụa. Tôi chỉ mặc nó đúng một lần, vào lễ cưới của mình, rồi sau đó vợ tôi gói nó lại bằng giấy dầu thật kỹ lưỡng rồi cất vào dưới cùng của chiếc rương hành lý. Vợ tôi cho đó là một bộ hakama trang trọng. Cô ấy tự mình nghĩ như thế. Tôi đã mặc nó vào ngày cưới, nên đương nhiên nó phải là bộ hakama trang trọng rồi. Tuy nhiên, lúc đó tôi rất túng quẫn, và chẳng thể nào mua một bộ hakama trang trọng đúng chuẩn được, tôi đành mua một bộ bằng lụa bình thường. Tuy vậy, tôi cảm thấy thật tội nghiệp cho vợ mình nếu phá đi ảo tưởng đó nên tôi không bao giờ cho cô ấy biết sự thật. Dù thế nào đi nữa, đó vẫn là bộ đồ mà tôi muốn mặc khi đến dự buổi họp mặt. Là chiếc “áo gấm” của tôi.

“Em à, lấy bộ hakama đẹp ra cho anh nhé!” Tôi không thể ép mình nói là “trang trọng” được.

Bộ hakama trang trọng hả anh? Ôi, anh không được mặc bộ đó. Ai mà mặc bộ kimono trang trọng có họa tiết chấm nước đâu anh. Kỳ cục lắm!” Tôi chỉ có một thứ duy nhất để mặc vào những dịp đặc biệt – một bộ kimono không áo lót với họa tiết chấm nước. Hồi trước tôi cũng có chiếc áo choàng haori để khoác mùa hè, nhưng bị mất hồi nào không biết.

“Không kỳ đâu em. Lấy ra đi.” Tôi đã tính kể sự thật cho cô ấy nghe, nhưng kìm lại.

“Trông buồn cười lắm anh.”

“Anh không quan tâm. Anh muốn mặc.”

“Không thật đó, anh không được mặc bộ đó.”  Cô ấy vẫn khư khư giữ lấy ý kiến của mình. Có một chút gì đó vị kỷ ở đây. Cô ấy sẽ không để cho bộ hakama tôi mặc vào ngày cưới của chúng tôi bị vấy bẩn. “Anh có một bộ bằng vải xéc rất tuyệt mà.”

“Quên nó đi. Anh mà mặc nó vào thì trông như người kể chuyện trong một bộ phim câm ấy. Nó cũng bẩn rồi. Không mặc được đâu.”  

“Hồi sáng em ủi lại cho anh rồi. Nó hợp với bộ kimono của anh hơn.”

Vợ tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại cương quyết như thế. Tôi tính giải thích nhưng thấy phiền quá nên thôi. “Bộ hakama trang trọng.”, tôi nói, cuối cùng cũng tìm ra được lời nói dối phù hợp, “Bộ hakama trang trọng trông sẽ hợp hơn. Mưa như thế thì bộ vải xéc sẽ thành ra nhàu nhĩ ngay luôn ấy chứ.”

“Mặc bộ vải xéc đi anh.”, vợ tôi bắt đầu xuống giọng nài nỉ. “Anh hãy bọc nó lại và mang theo để nó khỏi bị ướt. Chừng nào anh tới nơi thì hãy mặc vào.”

“Được thôi.” Tôi chịu thua.

Tôi để cô ấy bọc lại bộ hakama vải xéc và một đôi vớ tabi trắng trong tấm khăn, rồi xắn gấu bộ kimono của mình lên, và bước ra giữa trời mưa với cây dù cùng linh cảm mơ hồ về một điềm gở đang treo lơ lửng

Buổi họp mặt được tổ chức ở một nhà hàng phương Tây nổi tiếng giữa Công viên Hibiya. Theo lịch hẹn, buổi họp mặt sẽ diễn ra vào lúc năm giờ ba mươi, nhưng tôi, người luôn xui xẻo và thường gặp rắc rối với các tuyến xe buýt, phải hơn sáu giờ mới đến được nơi. Tôi thì thầm vài lời vào tai cậu phát dép lê cho khách đi trong nhà, và cậu ấy chỉ tôi đi qua một căn phòng nhỏ gần lối vào để thay quần áo. Trong phòng, một cậu bé chừng mười tuổi với gương mặt tái nhợt, mặc một bộ com lê đắt tiền, ngồi ủ ê trên sàn nhà, miệng nhồm nhoàm nhai bánh kẹo, trong khi một gia sư đang giảng bài số học cho cậu ta. Chắc cậu nhóc này là con trai cưng của người chủ nhà hàng. Người gia sư là một phụ nữ đẫy đà và có tư thái trang nghiêm đĩnh đạc,  khoảng hai mươi bảy, hai mươi tám tuổi, với nước da trắng trẻo và đeo một cặp kính gọng tròn. Tôi buộc lại bộ kimono của mình, gồi mở gói đồ ra, mang đôi tất trắng vào, và lúc tôi mải loay hoay với bộ hakama vải xéc của mình, người gia sư, chắc chắn là thấy động lòng trước tình cảnh tội nghiệp này, lặng lẽ đứng lên, bước lại gần tôi và giúp tôi mặc bộ đồ vào. Cô ấy buộc dải khăn thành một cái nơ gọn gàng. Tôi cảm ơn cô ấy và vội vã chạy ra khỏi phòng, rồi cố tình từ từ đi chậm lại lên cầu thang, dừng lại ngay giữa đường để tháo chiếc nơ mà cô ấy đã cố gắng buộc ra. Tôi sẽ không đi loanh quanh với dải khăn vừa bẩn vừa nhăn lại được thắt thành một chiếc nơ xinh đẹp.

Ngay khi tôi đặt chân vào phòng tiếp tân, tôi đông cứng người lại vì căng thẳng. Giờ phút này chính là cơ hội của tôi. Thời khắc để tôi giành lại danh dự của mình, vốn đã bị ô uế ở quê nhà suốt mười năm nay, cuối cùng đã đến. Một hình tượng xuất chúng, tôi tự nhủ, đi đứng và cư xử như một người tài ba, xuất chúng. Ai đó đã vỗ nhẹ lên vai tôi. Tôi quay lại, thì ra đó là Kono Kaichi. Quên luôn cả những chiếc răng sún, tôi cười với anh ấy thật tươi. Kono Kaichi đã làm bạn với tôi mười năm nay, và chẳng phải do chúng tôi là đồng hương mà chúng tôi kết giao với nhau. Tôi tìm đến tình bạn này bởi vì anh ấy là một nghệ sĩ với trái tim trong sáng, chân thành và trung thực. Kono Kaichi cười toe toét lại với tôi, và tôi còn ngoác miệng cười lớn hơn nữa. Những lời thề thốt, tuyên bố về việc phải cư xử thật nhũn nhặn và kiềm chế đã bay vụt khỏi đầu tôi. Tất cả mọi người đều ngồi xuống. Tôi thành ra phải ngồi ghế cuối cùng, thật luôn. Trong lúc bối rối và vội vàng, gật đầu chào hết người này đến người khác, tôi thành ra phải ngồi chỗ cuối cùng. Ừ thì, có lẽ, nó cũng là một lựa chọn phần nào có ý thức. Đối với tôi, lựa chọn này được đưa ra không phải vì lòng tôn trọng những người khác ở buổi họp mặt, mà chính là sự chống đối, nổi loạn. Thậm chí, tôi ngờ rằng, sự nổi loạn ấy còn đi kèm với lòng kiêu ngạo và khinh khi nữa, nhưng tôi không chắc lắm .Dù gì đi nữa thì tôi vẫn ngồi cuối cùng, và tôi hết sức thoải mái với chỗ ngồi này. Vậy là tốt rồi, tôi nghĩ thầm, khá là hài lòng với cách mà mọi thứ đang diễn ra. Giờ là lúc giành lại tên tuổi và danh dự của mình thôi.

Tuy nhiên, điều tốt đẹp đó đã không xảy đến. Tôi đã xử sự một cách đáng khinh. Một thảm họa không hơn không kém.

Ôi, tôi đúng là một kẻ hết thuốc chữa thật rồi. Chẳng còn gì đáng giá ở tôi nữa. Đối với quê hương mình, tôi chỉ là một đứa con hư hỏng. Khi trở lại không khí quê nhà, tôi trở nên yếu ớt hẳn đi, thói ích kỷ của tôi đã lấn át con người tôi, và tôi hoàn toàn không thể kiềm chế hay kiểm soát nổi bản thân mình. Tôi trở nên vô dụng tới mức chính mình còn thấy lạ. Ý chí và lòng quyết tâm của tôi như bị gió cuốn sạch trơn, và tôi không thể kiềm chế bản thân mình được. Tim tôi đập thình thịch vì hoảng sợ, các khớp xương lỏng lẻo hẳn đi, khiến tôi không tài nào lên mặt hay làm ra vẻ được. Dù đủ loại món ngon vật lạ lần lượt được dọn ra, tôi, vì quá xúc động, nên cũng chẳng thể nào nếm thử. Tôi chỉ biết uống và uống. Nốc rượu sake như điên. Vì trời mưa, người ta đóng hết các cửa sổ khiến bầu không khí trong phòng trở nên nóng nực và bức bối, và khi men rượu đã ngấm vào người, tôi bắt đầu thở hồng hộc, và mặt thì đỏ gay lên như tôm luộc. Không ổn rồi. Cứ thế này thì tôi càng tai tiếng hơn nữa, danh dự của tôi ở quê sẽ chỉ chìm sâu thêm xuống vũng bùn nhơ. Lòng tôi buồn vô hạn khi mường tượng ra vẻ đau đớn, tức giận và nhục nhã hiện lên trên gương mặt người mẹ và người anh cả của mình nếu họ trông thấy tình cảnh tôi lúc này, nhưng tôi đã đánh mất khả năng tự kiềm chế rồi. Tôi chỉ uống, uống và cứ thế uống. Tôi đã trở nên cực kỳ ấu trĩ.

Ba mươi mốt tuổi đầu, chẳng còn nét thu hút nào của thời trai trẻ, thế mà tôi lại ngồi đây, đóng vai một đứa trẻ con – thật là một cảnh tượng ghê tởm đến tột cùng. Càng say, tôi lại càng trở nên thảm hại, tự vỗ về bản thân rằng mình chẳng hề muốn tham gia buổi gặp mặt này chút nào, rồi ấp ủ những mưu đồ đầy tự mãn để khoe rằng mình là một kẻ dị biệt. Nhưng tôi lại nghĩ, không, không, họ đều là những người đáng kính, đầy xuất sắc trong lĩnh vực của mình, là những người nghệ sĩ thật thà, khiêm tốn và nhân hậu, dù gặp phải khó khăn, thử thách và bất hạnh. Kẻ hèn nhát duy nhất ở đây là chính tôi. Ôi, mi thật là một gã hèn hạ, tôi tự bảo mình, chẳng khác gì một mụ già tiều tụy, hao mòn! Nếu mi ghét cay ghét đắng cái việc tham gia một buổi họp mặt như thế, sao mi lại vận một bộ hakama và tới đây? Ai cũng có thể nhìn thấu cái vẻ cáu kỉnh đầy hẹn hạ của mi.

Dù sao đi nữa, tôi cũng thật thảm hại, lúng ta lúng túng ở chỗ ngồi của mình, chẳng thể nào thư giãn thoải mái, không ngừng lắc qua lắc lại và uống hết cốc rượu này đến cốc rượu khác. Tôi hoàn toàn đắm chìm vào hơi men, và khi men rượu lan tỏa khắp mạch máu trong người tôi, cả người tôi nóng bừng lên đến nỗi đỉnh đầu tôi như bốc khói được.

Màn tự giới thiệu bắt đầu. Họ đều là những người nổi tiếng. Họa sĩ phong cách Nhật Bản, họa sĩ theo trường phái phương Tây, nhà điêu khắc, kịch tác gia, vũ công, nhà phê bình nghệ thuật, ca sĩ nổi tiếng, nhạc sĩ sáng tác, người vẽ tranh hoạt họa, tất cả với tài năng và phẩm giá của mình, đều là những người xuất sắc nhất, họ giới thiệu tên mình một cách nhã nhặn và thêm vào đó lời nói đùa nhẹ nhàng. Làm ra vẻ bạo dạn một cách ầm ĩ, tôi vỗ tay thật to vào những lúc không thích hợp và cứ hét lên “Nghe rồi! Nghe rồi!”, dù rằng tôi có nghe gì đâu, và khiến cho tất cả mọi người ở đó sửng sốt và nửa kinh ngạc, nửa ghê tởm khi họ tự hỏi rằng cái gã say xỉn ngồi góc trong cùng là ai. Tôi hoàn toàn biết rõ điều này, nhưng không thể “phanh” chính mình lại nữa.

Hết người này rồi lại đến người kia lên giới thiệu về bản thân mình, theo thứ tự chỗ ngồi, chạy hết khắp phòng và dần dần đến chỗ tôi. Cứ xem tình hình tôi hiện giờ đi, tôi sẽ nói cái quái gì khi tới lượt mình đây? Đầu óc tôi quá rối rắm để nghĩ ra một bài phát biểu dài. Người ta sẽ xem đó là những lời ba hoa vô nghĩa của tên say xỉn hết thuốc chữa và tôi sẽ càng bị khinh miệt và căm ghét hơn nữa. Rồi, đột nhiên, hiện lên trước mắt tôi là một dòng sông nhỏ mùa xuân, được mớm nước từ những cụm tuyết tan. Rau cần xanh mơn mởn mọc ở hai bên bờ sông. À! Tôi biết mình có thể nói gì rồi. Tôi sẽ nói được nhiều điều lắm. Chỉ là, đột nhiên tôi chẳng muốn nói mà thôi. Tôi chỉ đơn thuần là không muốn. Dẹp hết đi. Tôi chẳng còn để tâm rằng quê hương mình chưa từng hiểu được mình dù chỉ là một chút. Tôi chịu thua rồi. Quên cả chuyện “áo gấm về làng” đi.

Dù men rượu khiến đầu óc tôi rối loạn, tôi vẫn cố xoay xở tìm ý tưởng. Rồi tôi quyết định là chỉ cảm ơn tòa soạn về bữa tiệc, rồi quay đi ra ngoài. Điều thật lòng và chân thành duy nhất, không lên gân giả tạo, mà tôi có thể làm là thể hiện lòng biết ơn của mình và chỉ có như thế. Nhưng một giọng nói trong đầu tôi lại bảo tôi nên cân nhắc lại, rằng nếu tôi chỉ nói “Cảm ơn vì bữa ăn” rồi quay lưng đi, thì nghe có vẻ khúm núm, quỵ lụy, cứ như thể là tôi đang tuyên bố mình không mua nổi thức ăn và nước uống, và giờ thì tôi lại bị kẹt ý tưởng nữa rồi.   

Tới lượt tôi. Tôi lắc lư đứng lên, cố sắp xếp lại suy nghĩ trong đầu mình trong lúc bất ngờ và cố nặn ra nụ cười như kiểu một mụ già đang làm dáng, đáng kinh tởm tới mức tôi có thể nện chết chính mình. Tôi không muốn dùng cái tên Dazai. Cái tên đó sẽ chỉ gặp sự hững hờ và khinh bỉ. Như thế thì thật bất công cho những tác phẩm đáng thương hay độc giả của tôi.

“Tôi là con út của nhà Tsushima ở Kanagi.”. Ôi, nhưng nếu tôi nói như vậy, tôi sẽ đặt mẹ và anh cả của mình vào cảnh bị mọi người ghét bỏ. Tôi biết là gần đây, một tai họa đã  đổ xuống đầu người anh trai lớn nhất của tôi. Trong suốt năm, sáu năm qua, thật sự thì, gia đình tôi đã liên tiếp gặp phải bất hạnh này đến bất hạnh khác, còn chưa kể đến những rắc rối và ô nhục mà tôi mang lại cho họ nữa. Tha thứ cho tôi. “Tôi là con út của gia đình ở Kanagi…” Đó là những gì tôi cố nói, nhưng những từ ngữ đã bị kẹt lại và tất nhiên là gần như chẳng ai nghe được.

“Một lần nữa nào!”. Một ai đó ngồi đằng trước lè nhè hét lên bảo tôi, và nỗi thất vọng gần như mất phương hướng và loạn trí của tôi tập trung ngay vào giọng nói đó và bùng nổ. “Im đi!”, tôi thì thầm trong miệng. Ít ra thì tôi nghĩ là mình đang thì thầm, nhưng khi tôi ngồi xuống và nhìn lướt quanh căn phòng, tôi chợt nhận thấy không khí buổi họp mặt bỗng trở nên lạnh ngắt. Xong rồi. Hy vọng được cứu rỗi đã tan thành mây khói. Những lời chê trách, khinh miệt, rằng tôi là một tên côn đồ du đãng, sẽ lan truyền khắp quê tôi, từ nhà này sang nhà khác.

Tôi sẽ không kể tiếp về việc mình đã hành xử khiếm nhã như thế nào sau đó đâu. Thú nhận mà không xấu hổ hay sợ hãi gì như thế, cứ như là tôi đang nài xin độc giả của mình giúp đỡ và an ủi, và thậm chí có thể do cái ước vọng đê tiện mong được giảm nhẹ bớt lỗi lầm của tôi mà ra. Tôi phải gánh lấy tội lỗi của mình trong im lặng và chờ đợi sự phán xét từ Thượng Đế. Tôi chỉ có thể trách chính bản thân mình. Cứ cho là tôi đã phơi bày một phát toàn bộ những thói xấu xa, và sự mục nát trong tâm hồn mình. Trên đường về, trong cơn mưa tầm tã, tôi lên một chiếc xe kéo ở Ga Kichijoji. Người kéo xe là một ông già hom hem, yếu ớt. Mưa ướt đẫm người ông ta, lảo đảo bước đi, thở hổn hển và rên rỉ vì mệt nhọc. Tôi quát mắng ông ta suốt cả đoạn đường về:

“Rên rỉ cái gì chứ, ông bị sao vậy? Sức chịu đựng của ông ở đâu mất rồi hả? Chạy đi chứ! Nhanh lên!” Tôi đã thể hiện lồ lộ ra cái bản chất thật, đầy độc địa và tàn nhẫn của mình.

Đêm đó, cuối cùng thì tôi cũng thấm thía được sự thật. Rằng tôi không phải loại người có thể đứng trên thiên hạ. Bản thân tôi chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấp nhận và buông xuôi. Tôi, không nghi ngờ gì nữa, phải từ bỏ cái giấc mộng vinh quang trở lại quê nhà. Tôi nên tiếp tục sống với thái độ bình tĩnh, luôn khắc ghi trong lòng câu châm ngôn xưa rằng đồng cỏ xanh nằm ở nơi bạn tìm kiếm chúng. Tôi có lẽ sẽ vẫn là một gã nhạc công tầm thường nơi góc phố cho đến trọn đời. Chỉ những ai muốn lắng nghe thứ âm nhạc dại khờ và bướng bỉnh của tôi – chỉ họ mới nên nghe. Nghệ thuật không thể ra lệnh cho ai cả. Nghệ thuật chết đi ngay khoảnh khắc nó có quyền lực trong tay

Ngày hôm sau, một người bạn hiện đang nghiên cứu lối vẽ tranh theo kiểu phương Tây đến Miataka thăm tôi, và tôi kể anh ta nghe về thất bại thảm hạm của mình đêm trước cùng quyết tâm với chính bản thân mình. Người bạn này của tôi cũng bị xua đuổi khỏi quê hương mình, một nơi trên một hòn đảo ở Biển Nội Địa.

Anh ta bảo rằng, “Quê hương như cái nốt ruồi trên mặt. Khi mà cậu để nó làm phiền tới mình, thì cậu sẽ bị phiền nhiễu mãi thôi. Cậu có thể mổ nó đi, nhưng vết sẹo thì sẽ còn mãi.”  Anh bạn này có một nốt ruồi to cỡ hạt đậu tây dưới mắt phải.

Tôi không cảm thấy nhẹ lòng đi chút nào trước lời an ủi nửa vời của anh ta, và tôi ngửa đầu ra sau, rầu rĩ nhả khói thuốc lên trần nhà. Đó là lúc chuyện này xảy ra. Bạn tôi, trông thấy tám khóm hoa hồng trong vườn, cho tôi biết một sự thật đáng ngạc nhiên. Anh ta bảo rằng, những cây hoa hồng này, thuộc loại thượng hạng.

“Anh chắc chứ?”

“Chắc chắn đấy. Chúng phải được ít nhất sáu năm tuổi rồi. Cậu phải trả tới tận một yên cho mỗi khóm như thế ở chợ hoa đấy.” Anh bạn của tôi là một người đã dành ra rất nhiều thời gian và tâm huyết cho loài hoa này. Ở khu vườn nhỏ tại nhà anh ấy ở Ogikubo, anh có trồng đến bốn mươi hay năm mươi khóm hoa hồng.

“Nhưng cái người phụ nữ bán chúng cho tôi là một kẻ lừa gạt.”, tôi nói, và kể vắn tắt cho anh ta nghe về việc tôi đã bị lừa như thế nào.

“Những người kiếm sống bằng nghề buôn bán thường hay nói dối ngay cả khi họ không cần phải làm thế. Chắc là bà ta thật sự rất muốn cậu mua chúng thôi. Thưa bà, có thể cho tôi mượn cây kéo tỉa cành được không?”. Bạn tôi bước xuống vườn và nhiệt tình tỉa hết những cành cây thừa thãi.

“Có lẽ bà ta cũng cùng quê với tôi, người phụ nữ đó đó.”, tôi nói. Má tôi bỗng ấm lên vì một lý do nào đó. “Vậy ra, bà ta cũng không hoàn toàn là một kẻ lường gạt, nhỉ?”

Ngồi trên hành lang, hút điếu thuốc lá, tôi cảm thấy vô cùng mãn nguyện. Thượng Đế có thật. Ngài ấy thật sự tồn tại. Đồng cỏ xanh là nơi bạn tìm kiếm chúng. Hãy nhìn vào quả ngọt đến từ sự không kháng cự. Tôi tự xem mình là một kẻ may mắn. Người ta nói là hãy trải nghiệm nỗi đau buồn, bất hạnh bằng bất cứ giá nào. Rằng trời xanh đẹp nhất khi ta nhìn ngắm qua song sắt cửa sổ nhà tù. Và còn nhiều nữa. Cảm ơn. Và trong một khoảnh khắc, ý nghĩ này lóe lên trong đầu tôi: Chỉ cần những bông hoa hồng này còn tồn tại, tôi sẽ là vị vua của chính trái tim mình.


  1. tsubo: đơn vị đo diện tích đất đai của người Nhật, một tsubo bằng hai tatami và bằng khoảng hơn ba mét vuông
  2. sen: đơn vị tiền tệ của người Nhật, một yên quy ra được một trăm sen

Vì đây là lần đầu tiên mình thử dịch truyện ngắn, đặc biệt hơn nữa là truyện của tác giả mình yêu quý nhất, mình rất mong nhận được những lời nhận xét và góp ý của tất cả mọi người, nhất là những bạn/ anh/ chị, có thể đọc được nguyên tác tiếng Nhật của Dazai sensei. Bản dịch này của mình được dịch từ bản dịch tiếng Anh của dịch giả Ralp F. McCarthy, trong tuyển tập “Self Portraits: Tales from the life of Japan’s great decadent romantic Osamu Dazai”.

Nếu có trích dẫn hoặc chia sẻ xin hãy dẫn nguồn, vì nếu không, mình sẽ buồn như sensei vậy…

Cảm ơn tất cả mọi người!

ABOUT ME

Nicknames: Sora, Sagitta

Zodiac sign: Sagittarius

MBTI type: INFJ – T

Hobbies: Watching and playing football, Reading (any types, but favorite ones are psychological books, literature and travel articles), Collecting coins and miniatures and stuffed toys, Reading manga and light novels, and to some extent, watching anime, Playing games (Kantai Collection, Bungo to Alchemist, Fate/ Grand Order JP, and Tabi Kaeru)

Favorite food: MORE

Languages: Vietnamese (obviously), English, Cantonese (only speaking and listening are fine)

Dazai Osamu sensei is my favorite author, so you will find plenty of stuffs related to him here.

WELCOME TO MY BLOG!